Tiểu Sử
Hành Trạng
Hòa thượng Thanh Trí Hải Luận (1858 - 1939)
Chuà Quảng Tế - Huế

Hòa thượng Thanh Trí Hải Luận hiệu Tuệ Giác, thế danh là Trương Văn Luận, đệ tử của ngài Hải Thiệu Cương Kỷ chùa Từ Hiếu thuộc đời thứ 41 dòng thiền Lâm tế.
Hòa thượng sinh ngày 05.05. năm Mậu Ngọ (1858) nguyên quán xã Trà Bình, tổng Bình Trung, huyện Bình Sơn, phủ Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Ngài sinh ra trong một gia đình tin Phật, thuở nhỏ đã được từ mẫu dẫn đến Tổ đình Thiên Ấn lễ Phật nên ngài luôn nghĩ đến con đường xuất gia học đạo, ban đầu thân phụ chưa thuận, vì thương con thấy con khó kham nổi sự khó khăn trong đường xuất tục; nhưng với ý chí mãnh liệt nên thân phụ ngài đã gởi cho ông cậu là quan thái giám cũng là đệ tử tại gia của Tổ Hải Thiệu Cương Kỷ nên được người cậu đưa ra Huế lên chùa Từ Hiếu bái yết xin quy y làm đệ tử Tổ Hải Thiệu và được ngài chấp thuận. Hòa thượng xuất gia tu học tại đây một thời gian khá lâu, Tổ nhận thấy công hạnh tu học cũng như phong cách đạo cốt khả dĩ làm pháp khí tương lai nên sau đó Tổ đã cho thọ giới Cụ túc, hoàn thành giới pháp đồng thời sau đó ấn chứng cho đắc pháp đại sư ngày 15.8. năm Bính Thân (1897) với bài kệ:
尋 得 主 人 翁
始 知 本 來 仝
一 真 皆 是 佛
繼 世 奉 祖 尊
Tầm đắc chủ nhân ông,
Thỉ tri bổn lai đồng.
Nhất chơn giai thị Phật,
Kế thế phụng tổ tông.
Nguyên Hồng dịch:
Tìm được chủ nhân ông,
Mới hay bổn lai đồng.
Nhất chơn đều là Phật,
Nối đời thờ tổ tông.
Đến đây phong cách và đạo hạnh của ngài toả rạng nên đến thời Thành Thái Hòa thượng được cử tri sự chùa Thiên Mụ; đến năm Thành Thái thứ 10 (1898) được sắc phong Trú trì chùa Thiên Mụ, đồng thời ngài cũng nhận sự cung thỉnh Trú trì chùa Quảng Tế.
Năm Duy Tân thứ 7 (1913) Hòa thượng Tăng Cang chùa Thiên Mụ viên tịch, Hòa thượng Hải Luận được Hoàng triều và Sơn môn cử làm Tăng Cang chùa Thiên Mụ cho đến năm Giáp Tuất (1934) ngài trở về chùa Quảng Tế. Trong thời gian này phong trào chấn hưng Phật giáo ra đời, An Nam Phật học hội thành lập, ngài được hội tín nhiệm, và ngài cũng đã tham gia du hóa khắp nơi từ Bắc Trung cho đến miền Nam.
Trong khi hành hóa Phật sự ngài đến nơi nào Tăng tín đồ cũng dành cho ngài nhiều sự kính mến với một đạo tình thắm thiết, đồng thời các Phật sự tại các nơi ngài đến đều thành tựu tốt đẹp. Ngài cũng đã được cung thỉnh làm Yết-ma, Giáo thọ, Tôn chứng cho nhiều giới đàn như Vĩnh Gia, Từ Hiếu, Báo Quốc, Thanh Hóa (Chùa Đại Bi) ...
Mùa hạ năm Đinh Dậu thời vua Thành Thái (1897) có Phật tử Nguyễn Hữu Dương làm án sát tỉnh Hà Nam, cúng cho ngài hai bức tranh treo hai bên tả hữu trước chánh điện; một bức là Tuỳ Thanh Cảm Ứng, một bức là Quang Minh Chánh Đại (2 bức này vẫn còn).
Năm Tân Sửu, Thành Thái thứ 13 (1901) bà Trang Ý Thuận Thiên thái hoàng thái hậu ý chỉ cúng cho chùa một mẫu ruộng tại xứ Cửa Làng thuộc thôn Thần Phù, xã Thuỷ Châu để hương khói (Tam bảo tự điền).
Năm Giáp Thìn Thành Thái thứ 16 (1904) Hòa thượng và bà Hội chủ cùng một số thiện tín đã trùng tu lại chùa. Năm Kỷ Tỵ Bảo Đại thứ 4 (1929) Hòa thượng và thiện tín một lần nữa trùng tu tự vũ. Ngày 07 tháng 7 năm Tân Mùi Bảo Đại thứ 6 (1931) Càn Nguyên Thái hoàng thái hậu ý chỉ Sắc tứ hiệu chùa và được Bộ Lễ chấp chiếu ban sắc gọi là “Sắc Tứ Quảng Tế Tự”.
Năm Mậu Dần Bảo Đại thứ 13 (1938) Ngài Tăng Cang Tuệ Giác trùng tu lại nhà Tăng và từ đây ngài cảm thấy tuổi già sức khoẻ có phần giảm sút nên quyết định trở về chùa Quảng Tế để tịnh dưỡng cho đến khi viên tịch ngày 19.05.Kỷ Mão niên hiệu Bảo Đại thứ 14 (1939). Ngài thọ 82 tuổi đời và gần 60 hạ lạp.
Tháp ngài được môn đồ xây dựng trong khuôn viên chùa Quảng Tế gần bên tháp ngài Hải Nhu. Bia tháp đề:
敕 賜 天 姥 寺僧 綱 嗣 臨 濟 四 十 一 世 諱 清 智 號 慧 覺 羯 麼 阿 闍 梨 之塔
“Sắc tứ Thiên Mụ tự trùng hưng Quảng Tế từ Lâm tế tứ thập nhất thế huý Thanh Trí hiệu Tuệ Giác Yết-ma A-xà-lê chi tháp”.
Long vị thờ tại tổ đường ghi:
色 賜 天 姥 寺 僧 綱 重 興 廣 濟 臨 濟 正 宗 四 十 一 世 上 清 下 智 諱 海 論 號 慧 覺 羯 厤 阿 闍 梨 覺 靈 猊 座
“Sắc tứ Thiên Mụ tự Tăng Cang trùng hưng Quảng Tế Lâm tế chánh tông tứ thập nhất thế thượng Thanh hạ Trí huý Hải Luận hiệu Tuệ Giác Yết-ma A-xà-lê Giác linh nghê tòa”.
