Tiểu Sử
|
|||
| Danh Tánh | HT Trừng Hương Tịnh Hạnh -
|
||
| Sanh | #1 | Năm Sanh | 1889 |
| Sư Thừa | #1 | Nối Pháp | Chưa Rõ |
| Nối Pháp | HT Thanh Thái Phước Chỉ - Ðời Thứ 41 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 7 Dòng Lâm Tế Liễu Quán | ||
| Đồng Môn | ♂️ HT Trừng Thông Tịnh Khiết - Ðời Thứ 42 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 8 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♂️ HT Trừng Không Tịnh Phổ, ♂️ HT Trừng Thanh Tịnh Nhãn, ♀️ Ni Trưởng Trừng Ninh Diệu Hương - Ðời Thứ 42 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 8 Dòng Lâm Tế Liễu Quán | ||
| Tịch | #1 | Viên Tịch | 1933 |
Hành Trạng
Hòa thượng Trừng Hương Tịnh Hạnh (1889 - 1933)
Chùa Tường Vân - Huế

Hòa thượng thế danh là Nguyễn văn Cung, sinh tháng 6 năm Kỷ Sửu (1889) vào triều Thành Thái nguyên niên, ở làng Dưỡng Mong thượng, Tổng Ngọc Anh, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ là cụ ông Nguyễn văn Toán, Pháp danh Trừng Qui, tự Thiện Toán, hiệu Tịnh Căn, cụ bà là Tôn nữ Phước Lý, Pháp danh Trừng Tế, hiệu Diên Long. Ngài sinh ra trong một gia đình mang cốt cách Nho giáo ở phía Nam kinh thành Huế, nơi đây phong cảnh làng quê hữu tình. Sau sông, chung quang là ruộng lúa. Cả làng dân tình hiền hòa. Song thân đều một lòng tin kính Tam bảo. Nhà có em ruột là Hòa thượng Thích Tịnh Khiết - Tăng thống Giáo hội (thế danh là Nguyễn văn Kính). Ngài và em được cha mẹ chiều theo ý nguyện của con, cho xuất gia ở tuổi thiếu niên tại chùa Tường Vân, thờ Hòa thượng Thanh Thái làm thầy. Năm đó Ngài vừa tròn 16 tuổi. Tám năm sau, Thiền sư Vĩnh Gia mở Đại giới đàn ở chùa Phước Lâm, Quảng Nam, Ngài được thọ Cụ túc giới (1910) là lúc Ngài được 21 tuổi và được Hòa thượng Bổn sư ban cho Pháp danh Trừng Hương, tự Thiền Duyệt, hiệu Tịnh Hạnh. Bốn năm sau khi thọ Cụ túc giới (tức là 1914), lúc này Ngài được 25 tuổi đời được Bổn sư phú Pháp với bài kệ sau:
法傳清教道心堅
明訓相承一念專
一點眞如明法性
水澄珠現在人前
Phiên âm:
Pháp truyền thanh giáo đạo tâm kiên
Minh huấn tương thừa nhất niệm chuyên
Nhất điểm chơn như minh pháp tíùnh
Thủy trừng châu hiện tại nhân tiền.
Nguyên Hồng dịch:
Nối truyền giáo pháp đạo tâm kiên,
Ghi khắc lời này dạ phải chuyên.
Một điểm chân như ngời pháp tính,
Nước trong châu ngọc hiện y nguyên.
Sau đó, Ngài ra chùa Thiên Hưng theo học lớp Phật pháp do Thiền sư Huệ Pháp mở tại đây. Vào năm Khải Định thứ 5, Thiền sư Phước Chỉ viên tịch, Ngài được tông môn công cử làm tọa chủ Tổ đình Tường Vân. Ngài cũng thường tới chùa Tây Thiên và Trúc Lâm để nghe Thiền sư Phước Huệ ở chùa Thập Tháp ra giảng.
Năm 1932, Ngài được Hội An Nam Phật học cung thỉnh vào Ban Chứng minh đại Đạo sư cho Hội An Nam Phật học tại Huế cùng với các Đại lão Hòa thượng Phước Huệ, Hòa thượng Giác Tiên, Hòa thượng Giác Nhiên và Hòa thượng Tịnh Khiết…
Do cuộc sống kham khổ, công việc Phật sự đa đoan, sức khỏe của Ngài giảm sút nhanh chóng và Ngài đã thu thần thị tịch vào lúc 4 giờ sáng ngày 24 tháng 8 năm Kỷ Sửu (13.10.1933), hưởng dương 45 tuổi, 25 hạ lạp.
