Tiểu Sử
|
|||
| Danh Tánh | HT Viên Thành Trừng Thông - Ðời Thứ 42 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 8 Dòng Lâm Tế Liễu Quán -
|
||
| Sanh | #1 | Năm Sanh | 1879 |
| Sư Thừa | #1 | Nối Pháp | Chưa Rõ |
| Nối Pháp | HT Thanh Chân Viên Giác - Ðời Thứ 41 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 7 Dòng Lâm Tế Liễu Quán | ||
| Đồng Môn | N/A | ||
| Phối Ngẫu | #1 | Danh Tánh | Chưa Rõ |
| Pháp Tử | ♂️ 0-HT Tâm Phổ Trí Uyên, ♂️ HT Tâm Đăng Trí Hiển - Ðời Thứ 43 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 9 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♂️ HT Tâm Như Trí Thủ - Ðời Thứ 43 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 9 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♂️ 0-HT Tâm Thọ Trí Giải | ||
| Tịch | #1 | Viên Tịch | 1928 |
Hành Trạng
Hòa thượng Viên Thành (1879 - 1928)
Chùa Tra Am - Huế

Ngài là chắt nội của vua Gia Long; người thuộc Phòng Định Viễn Quận Vương. Thế danh của Ngài là Công Tôn Hoài Trấp, sinh vào giờ Sửu, ngày Bính Tuất, năm Tự Đức thứ 32 (1879); tức là ngày 17 tháng 11 năm Kỷ Mão. Thân sinh của Ngài là Công tử Tĩnh Quỵ, vốn công tử thứ 38 con của Hoàng tử Nguyễn Phúc Bính (1797-1863); thân mẫu là bà Vũ Thị Dần, con gái của ông Vũ Văn Lợi. Như vậy, quê nội của Ngài là huyện Duy Xuyên, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; còn quê ngoại người xã Xuân Mỵ, huyện Hải Lăng - Quảng Trị.
Là con trai thứ ba trong một gia đình danh gia vọng tộc và là cháu con của một vị vua đã khai sáng nên cơ nghiệp triều Nguyễn, nhưng tuổi thơ của Ngài không phải theo định kiến tất nhiên như người đời thường nghĩ. Ngược lại, thực tế của cuộc đời đã làm tan tác bao hòai bão tốt đẹp, cuốn phăng sự bình an sinh sống của một gia đình dẫu là thứ dân cũng có được. Ngay từ lúc Ngài chào đời, những sự kiện cuối trào Tự Đức đủ đun nóng tình thế nội triều và đất nước ở thế lửa bỏng dầu sôi, đến nỗi chưa đầy một năm sau đó (ngày 25 tháng Chạp 1880) triều đình đã chính thức sang cầu viện nhà Thanh. Cái nghèo khó là chuyện riêng mang cam chịu, nhưng tình thế đất nước như vậy dù là hàng dòng dõi vua chúa, song thân Ngài cũng không thể dửng dưng, ít nhất là chọn riêng một thái độ rẽ hướng nào đó cho phải đạo.
Năm Quý Mùi (1883) - năm Tự Đức cuối cùng, thân mẫu Ngài qua đời trong cảnh thiếu hụt, để lại nguyên trạng nỗi lo toan vào cội nguồn duy nhất còn lại là phụ thân. Năm ấy Ngài chỉ mới hơn bốn tuổi đầu, hãy còn nhiều ngơ ngác, vô tư. Có lẽ như thế sẽ tốt hơn để Ngài sớm nhận ra vì sao cuối năm ấy vua Dục Đức (1883-1883) chỉ lên ngôi được ba ngày đã phải chết tức tưởi.
Năm lên 10 tuổi, Kỷ Sửu (1889), chỉ sáu năm thôi mà bao biến thiên dồn dập với những đời vua nối tiếp nhau: Hiệp Hòa - Kiến Phúc - Hàm Nghi - Đồng Khánh đi vào ngõ tối tăm, tủi nhục, chưa đầy một năm mà ba vua bị giết; cha Ngài cũng qua đời trong năm này và Ngài phải sống cuộc đời “cô ai tử” rất đau buồn.
Năm Canh Dần (1890) lúc 11 tuổi, lần đầu tiên Ngài được đi học, điều đó với Ngài là một bước ngoặt không kém một niềm vui ấu thơ nào. Với người hiểu chuyện thì đó lại là một sự miễn cưỡng còn sót lại nơi người dì ruột dành cho Ngài chứ không là của một dì ghẻ, dù có muộn màng nhưng vẫn là một tình cảm đáng trân trọng.
Đời Ngài lại thêm những nghiệp quả đầy nghịch duyên trái ý, bởi sự phân biệt con em hoàng tộc với đẳng cấp bần hàn luôn được thầy dạy học quan tâm. Bị liệt vào đẳng cấp thứ hai qua lớp áo, cùng tuổi học muộn đã khiến Ngài cảm thấy bị xúc phạm. Để rồi không lâu sau đó, Ngài phải buộc lòng rời bỏ nơi mà những ngỡ rằng cuộc đời sẽ đổi khác, mà tìm đến với những cuộc vui của những đứa trẻ cùng đinh, để vùi lấp bớt nỗi cô đơn, lây lất của mình.
Đến năm 15 tuổi, tức năm Bính Thân (1896), trong dòng chảy cô đơn lây lất ấy đã dẫn bước chân Ngài đến chùa Ba-la-mật, nơi có người anh rể con chú bác là Thanh Chân Viên Giác trú trì, được Viên Giác Hòa thượng cho ở điệu. Đây mới chính là nơi an ổn, cắt đứt được nghiệp trần nghiệt ngã và là nơi thực sự thấm đượm tình yêu thương, mở bước sang trang sau này.
Năm 17 tuổi, tức năm Ất Vị, niên hiệu Thành Thái năm thứ 7 (1895), Ngài được Hòa thượng Viên Giác cho thế độ xuất gia. Đến năm Tân Sửu, Thành Thái thứ 13 (1901), Ngài được vào Phú Yên thọ Cụ túc giới, đậu Thủ Sa-di, được Tam sư Thất chứng trong Giới đàn thưởng một bộ kinh Lăng Già Tâm Ấn, một bộ y quý và một bình bát thượng hạng do Trung Quốc chế tạo.
Trước khi viên tịch, Hòa thượng Viên Giác đã ban kệ phú Pháp và để chúc lụy cho Hòa thượng Viên Thành kế thế trú trì chùa Ba-la-mật. Kệ:
曹 溪 一 派 水 東 流
瓶 钵 真 傳 不 既 收
教 外 本 來 無 別 事
圓 成 心 法 印 前 修 .
Phiên âm:
Tào khê nhất phái thủy đông lưu,
Bình bát chân truyền bất ký thu.
Giáo ngoại bản lai vô biệt sự
Viên thành tâm pháp ấn tiền tu.
Tạm dịch:
Tào khê một mạch chảy về đông
Bình bát đã trao đâu phải không
Ngoài giáo, xưa nay không hề khác
Ấn tâm pháp ấy quyết tu tròn.
Ngài được Pháp húy là Trừng Thông, thuộc thế thứ 42 dòng Lâm Tế chánh tông; nhưng là thế hệ thứ 8 của dòng Thiền Liễu Quán - Nam Hà. Ngài trú trì chùa Ba-la-mật khoảng 23 năm. Đến năm Khải Định thứ 8, Quý Hợi (1923), Hòa thượng lên ấp Tứ Tây, thôn An Cựu, huyện Hương Thủy, khai sơn ra chùa Tra Am.
Năm Giáp Tý (1924) Khải Định thứ 9, Ngài được cung thỉnh vào hàng Đệ nhị Tôn chứng ở Giới đàn chùa Từ Hiếu. Chùa Tra Am ngày một tấn phát, được nhiều người tìm đến tu học và thỉnh giảng. Ngoài ra chùa còn là nơi danh lam được các hàng thức giả, nhà văn thơ trong hai triều Khải Định và Bảo Đại tìm đến ứng vịnh thi pháp, trao đổi đạo tình. Đặc biệt từng đón các Cao Tăng như ngài Tâm Tịnh ở chùa Tây Thiên; ngài Giác Tiên ở chùa Trúc Lâm; ngài Huệ Pháp ở chùa Thiên Hưng; ngài Phổ Huệ ở chùa Tịnh Lâm; ngài Từ Nhẫn ở miền Nam… tìm đến thăm nom và thư đạo. Đáng lưu ý hơn hết về giá trị của chùa Tra Am qua bài “Tra Am Ký” do Mai Tu-Nguyễn Cao Tiêu viết, càng làm tăng thêm danh tiếng lẫn phong cảnh đạo vị nơi này.
Năm Mậu Thìn (1928) năm Bảo Đại thứ 3, Ngài đã an nhiên thị tịch tại chùa Tra Am, thọ 49 tuổi đời, 32 năm xuất gia tu tập với 27 Hạ lạp. Tháp bảy tầng của nhục thân Ngài được các đệ tử xây dựng bên phải chùa Tra Am, mặt hướng về phía Tây, nhìn ra dòng Tẩy Bát Lưu.
Tưởng niệm
Bổn sư tôi, thầy Thích Chánh Giáo, vốn là đệ tử ngài Đắc Ân và học với ngài Tra Am. Mỗi khi nói đến hai ngài, thầy nói với giọng khác thường, cực kỳ thân và kính. Tôi chưa nghe giọng ấy, vô tình hay hữu ý, đã có với ai. Tôi biết người gọi ngài là Tra Am, là do đó. Khi vào Huế học Phật, tiếng Tra Am nghe càng hấp dẫn. Hương thừa của cao tăng vẫn còn thơm động. Tuy vậy, không hiểu tại sao tôi đã chưa đến đó, dầu bạn học liên hệ Tra Am đã có, bạn học khác rủ đi cũng nhiều. Trong thời gian này, thỉnh thoảng chỉ nghe anh ruột tôi, nhưng là bạn nhỏ và rất thân với Vân Đàm, vẫn hay ngâm nga cái câu mà ông này bái phục và nói cho. Đó là câu “thế phi dũng liệt trượng phu, đại giải thoát, hán hà dĩ kham thử” nằm trong bài tựa ngài Tra Am viết cho kinh Pháp Bảo Đàn. Điều lạ là thầy tôi nói với tôi về ngài Tra Am nhiều lắm. Thầy cũng là người khá rành và thích thi văn. Nhưng đã không nói đến câu này. Thì ra cái khoái nhân cách với cái khoái khẩu khí có trường hợp vẫn khác nhau.
Năm 24 tuổi tôi mới đến Tra Am. May cho tôi là cảnh tuy có vẻ suy tàn, nhưng ý vị vẫn còn. Còn đến nỗi Tra Am mới đáng nói là “tình cảnh” nỗi bâng khuâng xúc cảm của tôi đã vượt ngoài cái nghe cũ. Người ta chỉ cho tôi tháp ngài. Tôi đã nhìn với cái nhìn chiêm ngưỡng. Tôi nói may cho tôi, vì nếu tôi đến chậm thì hết đến nỗi sau đó, đến lại mấy lần, tôi đã bực thầm, bụng bảo dạ, “thực hết rồi” Tra Am sau này chỉ là của người sau, tương phản đến nỗi, so với vài chỗ xuống suối Tra Am (may mà còn vài chổ ấy), thấy mà ngao ngán.
Cũng vì tâm trạng này mà có lần tôi định viết một cuốn sách về ngài Tra Am. Tôi đem ý định này nói cho Hòa thượng Trí Thủ, đệ tử của Ngài, thì được Hòa thượng cho đọc Lược ước tập, tập sách biên chép bằng tay những thi văn của ngài Tra Am. Lại được viết lúc ngài còn tại thế : quý ở chỗ đó. Đọc xong, tôi bỏ ý định của tôi. Lý do thật đơn giản. Ngài Tra Am quả có một cái gì cảm mà nói không được. Nói ra, chỉ làm mờ đến lạc mất hình bóng mình cảm thấy mà thôi. Điều đáng nói là thời ngài Tra Am, kinh sách Phật học chưa thể sưu tầm lại cho đủ. Nếu phải học qua sách, thì sách lúc đó không thể nào tạo cho ngài Tra Am có được kiến thức Phật pháp như Lược ước tập. Ấy vậy mà ngài đã có, rồi độc giả sẽ thấy.
Ngài Tra Am là hạt lúa đã xay đã giã ra gạo rồi. Ai chưa biết gạo là gì, mà phải tìm hiểu lúa của gạo, thì cái văn học ấy không phải của ngài Tra Am, dẫu rằng đừng nghĩ ngài hoàn toàn thiếu cái học này.
Tuy nhiên, tôi nói là cái tôi thấy, tôi nghĩ. Cái đó chưa phải của Ngài. Vậy độc giả hãy đọc thẳng Lược ước tập.
Lược ước tập được dịch như thế nào, sữa chửa ra sao, việc ấy có Hòa thượng Trí Thủ lo. Hòa thượng lo thì xứng đáng vì Hòa thượng là đệ tử và đã học với ngài Tra Am. Thêm nữa, Hòa thượng vốn cũng rành và thích văn thơ, nhất là văn thơ Hán. Tôi thì chỉ nói về Lược ước tập do sự đọc nguyên văn mà thôi.
Cái nhan đề Lược ước tập do chính ngài Tra Am đã định nghĩa, qua câu nói mà Hòa thượng Trí Thủ nói cho tôi nghe “chỉ đưa người, không đưa xe ngựa” nguyên ngài Tra Am dùng một đoạn gỗ, bổ đôi một thân cây, bắt cầu để qua con suối vào am, đặt tên Lược ước kiều. Rồi tên ấy, được ngài đặt luôn cho tập thi văn của ngài do đệ tử chép lại. Vậy là Tra Am ngày nay không còn nơi cảnh, nhưng còn trong sách này. Sách nhỏ như cái cầu nhỏ. Nhưng chỉ nhỏ với những kẻ muốn đi xe ngựa. Muốn đi xe ngựa thì chỉ có thể đi về hoàng thành Huế đề rồi đi lên bãi xương ba đồn, không thể qua cầu Lược ước mà vào Tra Am. Dẫu rằng cái cầu ấy chỉ chân không là qua được liền. Vào Tra Am dễ mà khó đến thế đó, huống chi vào Tra Am trong sách.
Xưa, nguyên chữ sơn môn là để tả Thiền vốn như núi : núi cao sừng sững trước mắt mà cửa núi không dễ gì bước lên, đi bằng chính cái chân của mình, thì Thiền cũng lên thấu huống chi vào Tra Am.
Tháng 6, 2516
Trí Quang
