TS Hải Thuận Lương Duyên

Tiểu Sử

Danh Tánh TS Hải Thuận Lương Duyên - Ðời Thứ 40 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 6 Dòng Lâm Tế Liễu Quán -
Sanh#1Năm Sanh1806
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối PhápTS Tánh Thiên Nhất Định - Ðời Thứ 39 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 5 Dòng Lâm Tế Liễu Quán
Đồng Môn ♂️ TS Hải Nhu Tín Nhậm, ♂️ TS Hải Thiệu Cương Kỷ - Ðời Thứ 40 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 6 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♂️ TS Hải Trân Thụy Uyển, ♂️ 0-TS Hải Trường Pháp Lữ, ♂️ 0-TS Hải Hoa Phát Đạt, ♂️ 0-TS Hải Trạch Thiền Hoa, ♂️ 0-TS Hải Phong Vĩnh Mậu
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ TS Thanh Nhàn Tâm Quảng - Ðời Thứ 41 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 7 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♂️ TS Thanh Liêm Tâm Thiền, ♂️ HT Thanh Tịnh Tâm Thể, ♂️ HT Như Thuật Tâm Minh, ♂️ HT Thanh Ninh Tâm Truyền - Ðời Thứ 41 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 7 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♂️ HT Thanh Vân Tâm Thành, ♂️ HT Thanh Ninh Tâm Tịnh - Ðời Thứ 41 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 7 Dòng Lâm Tế Liễu Quán, ♂️ HT Thanh Đức Tâm Khoan - Ðời Thứ 41 Tông Lâm Tế - Ðời Thứ 7 Dòng Lâm Tế Liễu Quán
Tịch#1Viên Tịch1895

Hành Trạng

Thiền Sư Hải Thuận  Lương Duyên (1806 -1895)
Chùa Báo Quốc - Huế

Người ta cũng đọc là Diệu Giác Thiền sư. Đại sư người họ Đỗ, sinh quán xã Bích Khê, tổng Bích La, huyện Thuận Xương, phủ Triệu Phong - Quảng Trị. Ngài sinh năm Bính Dần (1806) đời Gia Long. Lúc nhỏ Ngài tên là Hổ. Năm 13 tuổi xuất gia tại chùa Báo Quốc. Năm Minh Mạng thứ 11 (1830), tại giới đàn Báo Quốc, Ngài Tế Chánh Bổn Giác làm Đàn đầu Hòa thượng; Đại sư được thọ giới, năm đó Ngài vừa 24 tuổi. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), Đại sư được cấp giới và độ điệp. Năm 1837 được Ngài Nhất Định phú Pháp:
良  緣  會  悟  芥  針  頭
道  合  心  傳  稱  所  求
慧  福  雙  修  無  間  斷
光  揚  祖  印  永  長  流。
Phiên âm:

Lương duyên hội ngộ giới châm đầu,
Đạo hợp tâm truyền xứng sở cầu.
Huệ phước song tu vô gián đoạn,
Quang dương tổ ấn vĩnh trường lưu.
(Nguyễn Lê Châu dịch) :
Lương Duyên hội ngộ cải đầu kim,
Hợp đạo truyền tâm ứng chỗ tìm.
Phước tuệ song tu không gián đoạn,
Rõ nêu Tổ ấn mãi lưu truyền.

Đại sư Diệu Giác được kế truyền thế thứ 40 dòng Lâm Tế, tức là thế thứ đệ lục thuộc Pháp phái Liễu Quán - Nam Hà; Pháp húy là Hải Thuận, tự Lương Duyên, hiệu Diệu Giác.
Năm Tự Đức thứ 2 (1849), Đại sư được cử về trú trì quốc tự Diệu Đế, sau đó được cử làm Tăng cang trải qua mười năm. Đến năm (1859), Sơn môn bảo cử Đại sư về làm Báo Quốc Tự Trú trì. Trong thời này, Đại sư đã mở cuộc đại trùng tu Báo Quốc Tự thành chốn tự vũ nghiêm trang, sáng sủa. Đồng thời Ngài còn tham dự trùng tu chùa Kim Tiên, chùa Huệ Lâm...
Theo bia dựng trước tháp Diệu Quang tại chùa Từ Hiếu, thì lúc này, Phật giáo Huế đang rơi vào thời đồi phế, suy tàn. Nguyên văn là "phù đương Phật pháp thiểu suy..”.. Nhưng, Đại sư Diệu Giác đã xuất hiện như vì sao sáng trong rừng Thiền, làm tỏa rạng dòng Thiền Liễu Quán và làm cho Thiền Lâm Tế lại có cơ phục hưng. Năm 1886, Đại sư được nhà vua ân tứ một y cà-sa vàng ngũ thể bá nạp.
Cũng theo bia nói trên, kể từ thời Gia Long khôi phục thành Phú Xuân, đến lúc Đại sư Diệu Giác đã 89 tuổi, thì chỉ có sáu vị Đại sư khai Đại giới đàn. Tính ra thời gian đã kéo dài gần 80 năm. Bởi vậy, năm Thành Thái thứ 6 (1894), mặc dầu đã 89 tuổi đời Đại sư Diệu Giác cũng đã mở đại giới ở chùa Báo Quốc; và ban kiến đàn cũng đã cung thỉnh  Ngài làm Đàn đầu Hòa thượng để khai đàn vào ngày 19 tháng 4 năm Giáp Ngọ (1891). Ngài đã thế độ 40 vị và phú Pháp cho 9 cao đệ tử, có Pháp húy ở hàng chữ ''Thanh'' và Pháp tự đều được đặt chữ ''Tâm'', mà trong Sơn môn Huế thường gọi là ''Cửu Tâm ''.
Ngày 13 tháng Giêng năm Ất Mùi (1895), Đại sư vân tập môn đồ và đệ tử để dặn dò, xong tuần trà đãi chư Tăng đến bên Ngài với câu nói: ''Thỉnh quý thiện tri thức đến mà thật không có người thù tiếp...'', thì Ngài an nhiên thị tịch. Tuổi đời thọ được 90, có đến 66 hạ lạp. Tháp Ngài ở bên bửu tháp Bổn sư và gọi là ''Diệu Quang Tháp''.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.