Tiểu Sử
| Danh Tánh | TS Pháp Cảnh -
|
||
| Sư Thừa | #1 | Nối Pháp | Chưa Rõ |
| Nối Pháp | TS Pháp Nguyện | ||
| Đồng Môn | N/A | ||
Hành Trạng
Pháp Cảnh: Ngài họ Trương, người Ô Trình Ngô Hưng. Thuở nhỏ mến thích học đạo nhưng ý nguyện chưa thành. Gặp lúc Ngài Tuệ Ích thiêu thân xin Vua ban cho phép hai mươi người Xuất Gia. Ngài cũng được dự vào một trong số những người ấy. Khi Xuất Gia thờ Ngài Pháp Nguyện làm thầy.
Lúc chính thức nhập đạo, Ngài giữ giới hạnh như băng tuyết. Thương người cứu giúp là ước nguyện. Sau đó Ngài bắt đầu học cách xướng đạo, nổi bậc hơn tiền nhân. Tề Cảnh Lăng, Văn Tuyên Vương cung kính ủng hộ rất trọng hậu. Ngài phát nguyện hoằng pháp không kể giàu nghèo.
Hễ có người thỉnh thì Ngài đi, không ngại sương lạnh nắng đốt, không chứa của riêng mà luôn làm việc phước. Đầu niên hiệu Kiến Vũ, những vị tín thí lập Chùa Tề Long thỉnh Ngài ở. Ngài có sẵn tánh đôn thuần nên lấy việc tiếp đãi làm bổn phận.
Vì vậy đạo tục quen biết đều rất ưa mến Ngài. Tuy việc học của Ngài không bao nhiêu nhưng có sẵn trí thông minh trời ban. Nên hễ gặp chuyện giễu cợt cật vấn thì nhất định có cách đối ứng. Ngài tịch vào năm thứ hai Vĩnh nguyên nhà Tề, thọ sáu mươi bốn tuổi.
Sau này Chùa Ngõa Quan có Ngài Đạo Thân, Chùa Bành Thành có Ngài Bảo Dữ, Chùa Kỳ Xà có Ngài Đạo Đăng đều theo học phép tuyên xướng, giọng điệu thanh thoát, lời lẽ hoa mỹ. Chẳng thua bậc tiền bối, làm lay động lòng người. Ngôi Chùa Ngài ở do Vua Tuyên Vũ Trường Sa sửa lại nhân đó đổi tên là Tuyên Vũ.
Luận rằng: Xướng đạo là tuyên xướng lý pháp, khơi mở tâm người vậy. Ngày xưa Phật Pháp mới truyền vào, bấy giờ vân tập chỉ bày tuyên xướng danh hiệu Phật, y theo câu văn mà hành lễ. Đến khi Trung Tiêu bị bịnh nặng nhờ sự trợ giúp nên mới tỉnh ngộ.
Ông bèn thỉnh những bậc cao đức thăng tòa thuyết pháp, hoặc trình bày nhiều nguyên nhân, hoặc chỉ nêu ví dụ. Sau này Ngài Tuệ Viễn ở Lô Sơn đạo nghiệp cao minh, tài ba lỗi lạc, mỗi khi đến trai đàn, Ngài bèn thăng tòa đích thân xướng thuyết.
Trước hết nói về nhân quả ba đời, rồi nêu rõ đại ý của buổi trai tăng. Người đời sau truyền trao nhau trở thành lệ cũ. Cho nên hơn mười vị như Đạo Chiếu, Đàm Dĩnh v.v… đều nối tiếp gương thầy. Vị nào cũng nổi danh đương thời.
Cái quý trong việc xướng đạo có bốn điều:
Đó là Thanh, Biện, Tài, Bác. Không có giọng điệu thì không thể làm chúng kính phục. Không có sự luận biện thì không đâu hợp thời, không có tài thì lời nói không sắc sảo, không hiểu rộng thì ngôn ngữ không bằng ai. Còn như âm hưởng chuông trống thì tứ chúng cảnh tỉnh tâm, đó là dụng của thanh vậy.
Lời sau khi thốt ra thích hợp không sai thì đó là dụng của biện vậy. Lời văn trau chuốt bóng bẩy, ý trong sáng là dụng của tài vậy. Nhiếp dẫn Kinh luận, minh chứng bằng sử sách, đó là cái dụng của bác vậy. Nếu ai có đủ bốn điều này thì có thể tùy cơ ứng biến.
Đối với năm chúng Xuất Gia thì phải đề cập ngay đến vô thường, khổ khuyên họ sám hối. Nếu là bậc Vua chúa, trưởng giả thì phải thích dẫn chung sách vở thế gian để khéo léo chuyển biến lời văn. Còn đối với người dân bình thường thì phải chỉ ngay những việc thấy nghe trước mắt.
Còn đối với dân dã rừng núi thì phải nói những lời dễ hiểu rõ ràng, trách tội cũng phải khéo léo. Những cách biến chuyển này tùy theo việc mà làm, thì mới gọi là biết thời biết người. Lại có tài ăn nói, tuy nhiên cần phải nói lời tha thiết mới khiến người cảm động, việc này là trên hết.
Ngày xưa phác họa bậc cao tăng vốn lấy tám khoa để viết thành truyện, nhưng lại nghiên tầm hai kỹ xảo tụng Kinh xướng đạo, tuy việc xướng đạo, là sau cuối nhưng làm thức tỉnh thế tục mới là trên hết. Cho nên thêm hai điều này để cho đủ con số mười. Tại sao đêm đau bát Quan trai, phải nhiễu quanh Kinh hành hương khói tụ tán, đèn phướn sáng trưng, tứ chúng chuyên tâm, ép tay mật niệm.
Khi ấy vị thầy xướng đạo bưng lư trầm khẳng khái, xướng vận ngôn âm lời lẽ tuyệt cùng. Nói đến vô thường thì thân tâm run sợ. Bàn về Địa Ngục thì khiến cho lệ rơi dầm dề. Trình bày nhân xưa thì như thấy nghiệp cũ. Luận về quả hiện tiền thì giống như lộ rõ lai báo. Kể về chuyện vui thì tâm tình thỏa thích.
Kể về những chuyện bi ai thì nuốt lệ ngậm ngùi. Bấy giờ cả chúng thổn thức, toàn thiền đường chìm vào cảnh buồn bã. Năm vóc sát chiếu dập đầu bi ai. Mỗi mỗi đờn chỉ, người người xướng danh Phật. Cho đến nửa đêm, chuông đổ mới thôi. Chính là nói tinh hà dễ đổi mà thắng tập khó lưu.
Rồi bảo mọi người mau đem hoài bảo này, chuyên chở tròn đầy sự luyến mộ. Ngay lúc này là cái dụng của thầy xướng đạo. Trong đây nói về việc Kinh Sư tụng Kinh đã thuật chương trước, đều là bởi thưởng ngộ hợp thời, trừ tà lập tín thì có một phần đáng khen.
Cho nên xếp vào cuối phần sử truyện của các bậc cao Tăng. Nếu sự tổng tập chưa rộng thì sự lão luyện không nhiều. Đã không có khả năng ứng thời xuất khẩu, thì cần phải học theo bản xưa. Nhưng tài không phải chính mình phát, thì sự chế tác ắt do người khác mà thành, cất lên những cung điệu nhất định mắc phải sai lầm, thì trong đó biên chép lầm lẫn, cũng y theo đó mà học xướng.
Đến nỗi Ngư Lỗ hỗn loạn, Thử, Phác nghi nhau, hoặc khi lễ bái, chính giữa sám hối qua loa, đã không gieo trồng từ đời trước thì chính giữa phải hổ thẹn rụt đầu. Lúc xảy ra những khúc mắc, khó tránh khỏi lòng dạ hoang mang, tâm khẩu cách biệt.
Lời trước đã qua lâu, mà câu sau chưa nghĩ được, vén áo ho khẽ để kéo dài thời gian, thính chúng đau lòng, người tham dự phải nói ra. Thí chủ mất phước, lập tức Chúng Tăng trái với lời dạy của Phật xưa. Đã dứt cơ hội sinh mầm thiện, chỉ tăng sự mê hoặc hý luận, bắt đầu bị sự cơ hiềm quá độ, rốt cuộc mắc phải lỗi lầm của bậc làm thầy.
Nếu như vậy sao gọi là bậc cao Tăng ư?
