Tiểu Sử
Hành Trạng
Pháp Nguyện: Ngài vốn mang họ Chung, tên Vũ Lệ, trước đây là người Trường Xã Dĩnh Xuyên, Tổ tiên lánh nạn dời đến Trường Thành, Ngô Hưng, Ngài thường lấy gốc mai để trông coi, có Thi Thuận Dân đến thay.
Lúc trước văn thư chưa tra xét, Thận Dân bèn thành người thiên lệch, bị mắc tội nên tìm Ngài xin tha. Có chỉ miễn tội chết cho Thận Dân, ngoại trừ Ngài học theo đạo, còn gia đình vốn thờ thần, thân học cổ vũ. Những tạp kỹ ở thế gian và việc chiêm tướng của cha, Ngài đều thấu tột đến chỗ vi diệu của nó.
Có lần Ngài lấy gương soi vào mặt và nói: Không lâu nữa, ta sẽ thấy thiên tử. Thế rồi Ngài đến Kinh đô ở Thẩm Kiều, làm nghề xem tướng để tự sống. Tôn Cốc, Thẩm Khánh Chi đến xin Ngài xem tướng.
Ngài nói: Ông Tôn đây đáng lý làm thứ sử ba châu, ông Thẩm làm chức tam công. Như vậy, Ngài xem tướng cho rất nhiều người, nhớ lại những việc gần của Ngài nghiệm lại không phải ít. Có người dâng sớ tâu lên Tống Thái Tổ, Thái Tổ cho gặp mặt. Vua cho dắt ra một người tù và một mỹ nữ sinh đẹp. Trang phục cho tù nhơn lựa bằng áo mũ cho thật oai, rồi cho Ngài xem tướng.
Ngài chỉ vào tù nhơn nói: Ông mắc nhiều hiểm nạn, xuống khỏi bệ sẽ bị bắt giam. Nói với nô tỳ rằng cô là kẻ thấp hèn, tạm thời được khỏi tội. Vua rất khâm phục, liền phong cho Ngài ở hậu đường, biết được bí thuật âm dương. Một thời gian không lâu sau, Ngài xin xuất gia.
Ba lần dâng sớ mới được toại nguyện. Ngài vào làm đệ tử của Viễn công ở Chùa Định Lâm Thượng. Đến khi Tông Cốc ở Long Phi trong thời Hiếu Vũ ra trấn nhậm Quảng châu dắt Ngài đi chung, thờ Ngài làm thầy năm giới. Hội Tiều Vương kết vây cánh tạo nghịch ở Lĩnh Nam. Tông Cốc đến tham vấn ý kiến Ngài.
Ngài nói: Hễ ông xuất binh thì giết nhầm người. Nay Thái Bạch phạm ở Nam Đẩu, theo pháp lẽ ra phải giết đại quan. Nhưng nên đổi kế nhất định sẽ được công lớn. Đúng như lời Ngài nói, Tông Cốc được tăng chức làm thứ sử ở Dự châu, rồi cũng thỉnh Ngài đi chung.
Cho đến khi Cánh Lăng Vương ngông cuồng gây chuyện, Ngài hết lời can gián ông cũng không đổi. Sau đó Ngài cùng với thứ sử muốn giảm bớt số lượng tăng khiến họ y theo pháp chế Bát chỉ. Lúc đó Sa Môn Tăng Đạo nổi tiếng nhất Giang Tây, cho rằng Ngài Tăng Nguyện là kẻ lạm khuôn, nên có vẻ bất bình, bèn lấy sớ dâng Hiếu Vũ Đế. Vua hạ chiếu bảo Ngài Tăng Nguyện trở về Kinh đô. Vua hỏi Ngài tại sao phải giả làm ăn chay.
Ngài đáp: Ăn chay đã hơn mười năm rồi. Vua sai Trực Cáp, Thẩm Du lấy thịt cưỡng ép Ngài, Ngài khép kín hai hàm răng, nguyện không thay đổi ý chí. Vua rất giận, ra lệnh bảo Ngài bỏ đạo làm tướng quân ở Quảng Vũ. Ngài đến thẳng điện Phật Hoa Lâm.
Bây giờ tuy thân hình giống người đời nhưng luôn chuyên tâm nơi Thiền giới, chưa hề mất tiết tháo. Chẳng bao lâu Vua băng hà. Chiêu Thái Hậu có lệnh cho phép Ngài trở lại với đạo. Năm thứ sáu thái tử, Hiệu Trường Sinh xả nhà làm Chùa, gọi là Chánh Thắng, thỉnh Ngài về ở. Tề Cao đế đích thân nuôi dưỡng ấu chủ luôn có nỗi lo bất trắc, thường đến tham hỏi ý Ngài.
Ngài nói: Tháng 7 sau sẽ định đoạt. Đúng như lời Ngài nói, đến khi Cao Đế lên ngôi, thờ Ngài làm Thầy. Vũ Đế, Từ Hưng cũng rất kính trọng Ngài. Năm Vĩnh minh thứ hai, Ngài chịu tang người anh, nên xin phép trở về quê. Về quê chưa bao lâu thì Vua lại sắc chỉ nữa.
Sau đó, Ngài đến ở Tương Cung. Vua xa giá từ Chùa Hạnh Giáng đến an ủi. Ngài nói chân bị đau chưa hết nên không thể hội kiến với vua. Vua đành quay về. Văn Tuệ thái tử có lần đến thăm hỏi, Ngài đã không mời ngồi nên Văn Tuệ làm lễ rồi đứng dậy.
Ông thưa với Ngài rằng: Dùng bảo xuy, thanh nao để cúng dường phước ấy như thể nào.
Ngài nói: Ngày xưa Bồ Tát dùng vô số kỹ nhạc cúng dường Phật vẫn không bằng chí tâm. Nay thổi ống trúc, đập da trâu chết, đây sao đủ bàn. Kẻ gieo đức muôn đời đều như vậy. Vương hầu, phi tần và sĩ dân tứ xứ đều theo Ngài thọ giới và trọng Ngài làm thầy.
Mỗi lần Ngài đến chỗ Vua thì đi ngay chứ không có thông bạch gì, nhưng Vua đều tùy hỷ. Mỗi ngày vật phẩm cúng dường kể cả vạn. Ngài đem tạo phước hết chứ không tích chứa vật gì. Hoặc thuê người lễ Phật, hoặc mướn người trì trai, hoặc gom cơm gạo thóc lúa rải cho chim cá ăn, hoặc đổi thức ăn thức uống để cho tù nhân, tạo công lập đức không thể tính hết.
Ngài còn có tài năng trong việc xướng đạo. Và y theo Kinh thuyết pháp, tất cả đều xuất phát từ nỗi ấp ủ trong lòng, không bàn tới cung thương, nói năng bậy bạ, chỉ tùy cơ ứng biến. Có thể gọi là bậc trí người ngu không bì kịp. Sau đó Ngài nhập định không ăn ba ngày.
Bỗng một hôm nói với đệ tử rằng: Các ông mất cái rá cơm. Chẳng bao lâu Ngài mắc bịnh nặng. Lúc đó, bên Chùa bị cháy ở cuối gió, khói lửa ngùn ngụt. Đệ tử muốn chở Ngài ra khỏi Chùa.
Ngài nói: Nếu Phật bị đốt, ta sống làm gì nữa?
Thế là Ngài ra sức niệm Phật. Thế rồi ba phía đều cháy rụi, chỉ có Chùa không bị tổn hại. Ngài tịch năm thứ hai Vĩnh Nguyên nhà Tề, thọ tám mươi bảy tuổi.
