Tiểu Sử
| Danh Tánh | TS Tuệ Nhẫn -
|
||
| Sư Thừa | #1 | Nối Pháp | Chưa Rõ |
| Nối Pháp | TS Tăng Biện | ||
| Đồng Môn | N/A | ||
| #2 | Nối Pháp | Chưa Rõ | |
| Nối Pháp | TS Tăng Biện | ||
| Đồng Môn | N/A | ||
Hành Trạng
Tuệ Nhẫn: Ngài họ Quý, người Kiến Khang, thuở nhỏ Xuất Gia ở Chùa Đa Bảo Bắc, không có những hạnh giải khác, chỉ rất yêu thích âm thanh. Ban đầu thọ giáo nơi Ngài Tăng Biện ở An Lạc, học hết phương pháp của thầy mà chất giọng trầm buồn, nhỏ nhẹ đặt biệt muốn vượt qua. Tề Văn tuyên cảm mộng, sau đó vân tập các Kinh Sư, rồi cùng với Ngài Tuệ Nhẫn so đo âm cũ để chế ra cách mới lạ, chế bốn mươi hai tập Thụy Ứng.
Những tác phẩm Ngài làm rất hay. Thế rồi bảo hơn bốn mươi vị như Tuệ Vi, Tăng Nghiệp, Tăng Thượng, Siêu Minh, Tăng Kỳ, Diêu Do, Tuệ Húc, Pháp Luật, Đàm Tuệ, Tăng Dẫn, Tuệ Trảo, Pháp Từ v.v… đều theo Ngài thọ học, rồi truyền pháp cho đến nay. Ngài thị tịch vào năm đầu Long Xương, thọ hơn bốn mươi tuổi.
Còn các vị:
Thích Pháp Lân.
Thích Đàm Biện.
Thích Tuệ Mạng.
Thích Đàm Can.
Thích Đàm Tấn.
Thích Tuệ Siêu.
Thích Đạo Thủ.
Thích Đàm Điệu.
Tất cả những vị này đều có tiếng tăm vào đời Tề. Những vị này ở vùng Triết Tả, Giang Tây, Kinh Thiểm, Dung Thục cũng là những bậc đọc tụng rất hay. Nhưng chỉ có tài trong việc ngâm vịnh, chứ không có công hạnh gì khác, cho nên không chép đủ vào sử.
Luận rằng: Luận về việc sáng tác văn chương là muốn tỏ bày những nỗi u ẩn ôm ấp trong lòng, còn chế tác cách ngâm vịnh là muốn ngữ ý trôi chảy âm vận hài hòa.
Cho nên tựa thi nói: Tình khởi bên trong mà hiện hình ra lời nói. Nói không tỏ bày hết nên phải ngâm vịnh. Nhưng câu ca của phương Đông phải kết vần mới thành ngâm vịnh. Còn lời tán của phương Tây thì phải làm kệ để hòa âm.
Tuy ca tán là đặc thù nhưng đều phải hiệp giai điệu chung luật để phù hợp với cung thương thì nó mới huyền diệu. Cho nên tấu ca trong vàng đá thì gọi đó là nhạc, tụng tán nơi ống sáo và dây đàn thì gọi là bái tán tụng. Bậc Thánh nhân chế ra bốn loại nói về đức của nhạc.
Đó là cảm thiên địa, thông thần minh, an vạn dân, thành tánh loại. Còn nếu nghe tán tụng cũng có năm điều lợi cho mình. Thân thể không bịnh hoạn, không quên ký ức, tâm không lười mỏi, âm thanh không bể, chư thiên vui mừng. Đó chính là Bàn giá đờn ca trong thạch thất để xin mở môn cam lồ đầu tiên, Tịnh cư ca tụng nơi song lâm để báo ân đức của một đời. Trong đó tùy thời mà tán vịnh, cũng tạo nên âm thanh tại xứ đó. Còn như ức nhĩ khẻ nghe giữa đêm.
Đề bà du dương ở Phạm cung, hoặc chỉ dạy yếu chỉ vô tướng, tấu nơi ống sáo, hoặc khiến âm bản hạnh tuyên vào đàn cầm. Tất cả đều làm uyển chuyển lời cảm thông trong câu khen ngợi Phật. Cho nên Hàm Trì, Thiều Vũ không so công của mình, Kích Sở, Lương Trần cũng không sánh cái diệu của mình.
Từ khi giáo pháp truyền vào phương Đông, người dịch văn thì rất nhiều nhưng chuyển tiếng thì quá ít. Bởi vì tiếng Phạm trùng lặp mà tiếng Hán thì đơn lẻ. Nếu dùng âm Phạm để vịnh ngâm tiếng Hán thì tiếng rườm rà mà kệ gấp gáp. Nếu dùng lời Hán để vịnh tiếng Phạm thì vận ngắn mà lời dài. Cho nên lời Phật có người dịch mang âm hưởng Phạm chứ không truyền.
Ban đầu có Ngụy Trần Tư, Vương Tào Thực rất thích thanh luật, gắn ý nơi âm Kinh. Đã thông thấu âm hưởng tốt đẹp của Bàn già. Lại cảm ứng với thần chế của Ngư Sơn. Thế là bỏ bớt Thụy ứng Bổn khởi để làm tông chỉ cho học giả. Truyền đạt âm thanh thì hơn ba ngàn. Còn khế có bốn mươi hai.
Sau này Bạch Kiều, Chi Thược cũng nói là bắt chước cách của Trần Tư, mà ưa thích thông linh, biệt cảm thần chế. Chế biến ra hữu thanh chỉ còn một ngàn mà thôi. Vào khoảng giữa năm Kiến Bình thời Thạch Lặc có thiên thần giáng xuống nơi làm việc của An ấp ngâm vịnh âm Kinh bảy ngày mới hết.
Lúc ấy những người truyền tin cho rằng đó là việc hư huyền nên bỏ đi. Cho đến giữa triều Tống Tề có các vị Đàm Diên, Tăng Biện, Thái Phó, Văn Tuyên v.v… đều tha thiết vịnh khúc ý âm luật, tuyển chọn sự dị đồng để phân biệt thành khoa. Mô phỏng theo cách xưa chỉ còn đúng ba trăm thanh. Từ đó về sau, thanh vận phần nhiều bị thất lạc.
Mỗi người cố ý bổ khuyết nên bất đồng. Cho nên sư sư đều có pháp khác nhau, từng nhà chế theo kiểu riêng. Tất cả đều do không rõ nơi âm chỉ chẳng phải chế đúng. Đó là do âm nhạc cảm động từ xưa như vậy. Thế nên Huyền Sư Phạm Xướng đến nổi nhạn đỏ ưa thích không nỡ bay đi.
Tỳ Kheo khởi xướng đến nỗi két xanh vui mừng quên trở về tổ. Đàm Bằng vừa cất giọng đã khiến voi ngựa quỳ rạp dưới chân. Tăng Biện chiết điệu còn khiến cho hồng hạc ngưng bay. Lượng về người tuy có sâu cạn, nhưng so về cảm cũng đáng bậc kế. Cho nên vỗ đá, đập đá thì muôn thú cùng nhảy múa, tiêu thiều chín khúc xong thì phượng hoàng bay đến kính lễ.
Chim thú còn có nỗi cảm sâu như thế huống chi con người và thần linh ư. Nhưng đọc tụng là tạo phước tốt. Những ý hay trong việc phúng tụng là quý chỗ thanh và văn đều đủ. Nếu chỉ có thanh mà không có văn thì đạo tâm không do đâu sinh. Nếu chỉ có văn mà không có thanh thì tình tục không thể thâm nhập.
Cho nên Kinh nói: Dùng âm thanh vi diệu để ca ngợi công đức của Phật, chính là ý này vậy. Mà chẳng bao lâu học giả thế gian chế tạo được những thanh đầu đuôi khác bèn nói là nổi danh đương thế.
Văn Kinh từ đầu đến cuối sẽ không có sự trù liệu, hoặc phá câu, hoặc hợp thanh, hoặc chia văn, hoặc đủ vận. Đâu chỉ không đủ âm thanh mà văn cũng không trình bày xong, người nghe chỉ tăng thêm nỗi hoang mang, nghe tụng chỉ tâm buồn ngủ hơn. Khiến cho kẻ vào kho minh châu mà chưa tìm được chỗ cất chứa. Trăm vị toàn sữa mà không chịu uống để đến nỗi phải chết.
Buồn thay, nếu có thể tinh thông được ý chỉ của Kinh, thấu đạt được âm luật thì tam vị thất thanh thứ tự không loạn, ngũ ngôn tứ cú khế hợp chẳng lộn. Trong đó khởi trịch, đãng cử, bình chiết, phóng thích, du phi chẳng chuyển trở lại nhiều lần mềm mại bỡn cợt vô cùng. Há miệng thì biến hóa vô tận.
Cho nên có thể bỉnh phát bát âm, quang dương thất thiện, mạnh mẽ mà không thô kệch, ngưng mà không trệ, yếu mà không dã, cương mà không bén, thanh mà không nhiễu, đục mà không che, thanh thoát đủ vận khởi lời vi diệu, để trưởng dưỡng tinh thần. Cho nên có thể nghe âm thanh để vui tai, ngâm chữ để sảng khoái tâm hồn. Như vậy gọi là Phạm âm thâm diệu, khiến người thích nghe.
Nhưng phong tục của Thiên trúc hễ ca ngâm lời pháp đều gọi là tán ca. Còn như Đông đô vịnh ngâm Kinh gọi là đọc tụng. Ca tán thì gọi là Phạm âm. Ngày xưa chư thiên ca tán đều lấy vần nhập vào dây cung. Năm chúng đã khác với thế tục, cho nên phải lấy sự uyển chuyển của âm thanh để gọi là vi diệu. Sự phát khởi cách tán chữ cũng bắt đầu từ Trần Tư.
Ban đầu viết Thái tử tụng và Thiểm tụng v.v… Vì thế mà chế ra âm thanh. Ca tán cao thấp đều bắt chước pháp của thần trao. Ngày nay ngơ ngác sợ hãi, bởi vì nó bị gió cuốn vậy. Sau này Cư Sĩ Chi Khiêm cũng truyền ba bộ Phạm chú, nhưng cũng thất lạc hết không còn.
Thời ấy có một chương cộng nghị sợ có kẻ chê bai phép tắc ấy. Chỉ có Khương Tăng Hội chế tạo Niết Bàn Phạm bái đến nay vẫn còn truyền. Chính là một quyển kính yết, lời văn trích trong hai quyển Niết Bàn. Cho nên nói Nê hoàn Bái đến đời Tấn có Pháp Sư Sanh.
Ban đầu truyền mích lịch, nay hành địa ấn văn chính là pháp này vậy. Ngài Đàm Thược chế ra sáu chữ, tức là một quyển Đại Bi Ai Mẫn. Đến nay thời có tác giả. Vả lại gần đây có Tây Lương Châu Bái, vốn xuất phát từ Quan Hữu, mà lưu truyền đến Tấn Dương. Nay mặt tròn như trăng vậy.
Tất cả những khúc này được bậc danh sư chế tác. Người đời sau kế nghiệp nhưng có nhiều chỗ sai sót. Có khi thì Sa di trẻ nhỏ truyền trao cho nhau. Ngày xưa thành quy tắc mà đến nỗi không sót một. Tiếc thay ở đây cũng luận về âm thanh nên luận đủ ở sau vậy.
