Tiểu Sử
Hành Trạng
Tuệ Đạt: Ngài họ Lưu, tên thật là Tát a, người xứ Ly Thạch, Tây Hà Tinh châu. Thuở nhỏ thích săn bắn, năm ba mươi mốt tuổi bỗng nhiên bị chết giấc, điều trị cả ngày mới tỉnh lại.
Trong lúc chết thấy đủ khổ báo ở Địa Ngục, đồng thời gặp một đạo nhơn nói rằng Ta là vị thầy thuở xưa của ông và thuyết pháp dụ dẫn khiến Ngài xuất gia và bảo Ngài đến Đan Dương Cối Kê Ngô quận tìm tượng thờ trong tháp A Dục lễ bái sám hối những lỗi lầm thuở trước gây tạo. Thế nên khi tỉnh lại, Ngài bèn xuất gia học đạo, đổi tên là Tuệ Đạt, siêng năng làm phước, lấy việc lễ bái sám hối làm đầu. Vào giữa năm Ninh Khang nhà Tấn Ngài đến Kinh Sư.
Đầu tiên do Giản Văn đế xây tháp ba tầng ở Chùa Trường Can. Sau khi tháp hoàn thành, đêm nào trong tháp cũng phóng quang. Thế rồi Ngài leo lên thành nhìn lại thấy ngôi Chùa này có sắc thái kỳ lạ nên đến đó lễ bái đêm ngày khẩn thiết.
Vào đêm nọ Ngài thấy dưới chân Chùa có ánh hào quang phát ra, Ngài liền bảo người khác cùng đào, đào xuống chừng một trượng tìm thấy có ba bia đá. Bia ở giữa được bọc một hòm sắt. Trong hòm lại có một hòm bạc. Trong hòm bạc lại có một rương vàng. Trong rương vàng lại có ba viên Xá Lợi và một chiếc răng, một cọng tóc dài mấy thước cuốn lại thành búi như con ốc, ánh sáng chói lọi.
Vào thời Chu Tuyên Vương, Vua A Dục cho xây tám vạn bốn ngàn ngôi tháp. Đây chính là một trong những ngôi tháp này vậy, được đạo tục khen ngợi việc kỳ lạ.
Ngài bèn xây một ngôi Chùa ở phía Tây ngôi tháp để thờ Xá Lợi. Vào năm thứ mười sáu niên hiệu Thái Nguyên nhà Tấn, Vua Hiếu Vũ lại xây thêm ba tầng, cũng vào giữa năm Hàm Hòa có Y Cao Đát ở Đan Dương, lúc ở bến sông cầu Trương Hầu, lưới được một tượng Phật, không có quang phu mà chế tạo rất tinh xảo.
Trước đây có một quyển phạm thư nói: Đây là do con gái thứ tư của Vua A Dục tạo. Ông ta chở tượng về đến cửa sông Trường Can. Trâu không đi được, sức người cũng không khiêng nỗi. Thế là bèn để xe trâu kéo về Chùa Trường Can.
Lúc đó khoảng một năm có ông Trương Hệ Thế ra biển đánh cá. Khi ra đến cửa biển vớt được hoa sen đồng nổi trên mặt nước. Ông đem về dâng cho tri huyện. Quan huyện bảo đem lên đài đặt dưới chân tượng, tự nhiên hai vật ăn khớp nhau.
Sau đó có năm vị Tăng người Tây vực đến chỗ ông nói:
- Ngày xưa ở Thiên Trúc, có tượng do Vua A-dục làm, khi đến đất Nghiệp gặp lúc loạn lạc nên chôn dấu ở vùng ven sông. Nay đã bình trị nên đến đây tìm vật đã mất.
Gần đây nằm mộng thấy có người nói: Tượng kia nay ở Giang Đông do Cao Đát lấy rồi. Cho nên chúng tôi vượt biển leo núi từ xa đô đến đây để được lễ bái một lần thôi. Ông ta liền dẫn tới Chùa Trường Cam, năm vị tăng thấy tượng ngậm ngùi rơi lệ, bức tượng liền phóng hào quang chiếu khắp phòng.
Năm vị tăng nói: - Xưa có viên quang nay đang ở nơi xa cũng phải tìm đến đó.
Vào năm đầu Hàm An nhà Tấn tại huyện Hợp Phố, Giao Châu, người tìm châu tên là Đổng Tông Chi lặn xuống đáy biển tìm được một tượng Phật. Thứ sử dâng lên Vua Giản Văn Đế nhà Tấn, Vua ra lệnh cúng dường tượng này. Tại huyện Khổng Huyệt cũng có một loại ánh sáng giống như vậy, hơn bốn mươi năm từ Đông sang Tây đều cảm ứng điềm lành, quang phu vừa đủ, khi Ngài đến Chùa thì tượng Phật linh dị gấp bội lần.
Sau đó Ngài sang Đông đến Ngô huyện lễ bái tượng Phật đá. Tượng này vào khoảng cuối đời Tây Tấn, năm đầu Kiến nguyên tức năm Quý dậu. Tượng trỗi lên trên dòng sông Ngô Tùng ra cửa Thượng Hải. Ngư dân nghi là thần biển bèn chú nguyện để thỉnh về. Thế là sóng gió nỗi dậy, họ sợ hãi quay về.
Lúc bấy giờ có người sùng bái đạo Lão cho rằng đó là thần của Thiên sư. Lại cùng nhau sang đó, sóng gió vẫn nổi dậy như trước. Sau này có vị Cư Sĩ tin Phật tên là Chu Ứng ở huyện Ngô nghe vậy khen rằng: Có phải sự cảm ứng thùy từ của đấng Đại giác chăng. Thế là ông bèn tịnh trai cùng với mấy người tín sĩ, ni cô Chùa Linh Vân đến cửa sông Thượng Hải đảnh lễ chí thành, đồng thời ca tụng công đức vô biên. Tức thời sóng gió bình lặng, từ xa nhìn thấy hai người lướt trên mặt sông mà đến đó chính là thạch tượng. Phía sau có bài minh, một gọi là Duy Vệ, một gọi là Ca Diếp. Ông liền thỉnh về an trí tại Chùa Thông Huyền. Sĩ thứ vùng Ngô Trung khen ngợi là việc linh dị. Người quy tâm thật đông, Ngài ở lại Chùa này suốt ba năm, đêm ngày thành kính lễ lạy chưa từng phế bỏ, chẳng bao lâu Ngài đến Cối Kê lễ bái tháp, tháp này cũng do Vua A Dục xây dựng, nhiều năm hoang tàn, chỉ còn lại nền móng cũ. Ngài định tâm quán tưởng thì bèn thấy ánh hào quang chiếu rực rỡ. Nhân đó Ngài sửa sang khám thờ, bầy chim không dám đến tụ tập làm tổ. Tất cả những kẻ săn bắn, bẫy rập gần Chùa chẳng ai dám đến bắt. Đạo tục cảm ngộ đều quay về nương tựa.
Sau này quận thú Mạnh Hạo lại mở rộng thêm ra. Ngài vân du Đông Tây chiêm bái lễ lạy có nhiều điều linh nghiệm. Ngài chuyên cần dốc chí trọn đời không đổi, sau này không biết Ngài ở đâu.
