Tiểu Sử
Hành Trạng
4. Cư sĩ Thiêm phán Lưu Kinh Thần. Cư sĩ Thiêm phán Lưu Kinh Thần, tự là Hưng Thiều, thuở thiếu thời có tài trội vượt, Cư sĩ đăng danh Quan bảng, đối với Phật pháp còn chưa có niềm tin. Năm ba mươi hai tuổi, gặp Thiền sư Tổng - Chiếu Giác ở đông lâm cũng trò chuyện dẫn dắt, Cư sĩ mới kính phục. Nhân đó tâm say mùi Tổ đạo. Thế rồi, đến chốn Kinh đô, bái yết Thiền sư Xung ở Tuệ lâm, khi ấy có vị Tăng hỏi Tuyết Ðậu thế nào là bản nguyên của chư Phật? Sư đáp: Sắc lạnh cả ngàn núi, ngay lời nói ấy mà Cư sĩ có sự tỉnh ngộ. Qua hơn năm sau, lại làm quan tại Lạc mạc, Cư sĩ lại đến tham yết Thiền sư Cảo tại Thiều sơn. Lúc sắp dời nhậm chức khác, Cư sĩ đến giả biệt Thiền sư Cảo. Thiền sư Cảo bảo: “Ông dụng tâm như vậy, sao lại buồn không tỏ ngộ?” ngày sau hoặc có cảnh giới phi thường có vô lượng điều hoan hỷ. Nên gấp thâu thập được đi bèn thành pháp khí, nếu thâu thập không được thì có tật bệnh không an mà cảm mắc hoạn mất tâm vậy”. Sau đó không bao lâu, Cư sĩ lại đến kinh đô, vào nương tựa Thiền sư Dật - Chánh giác ở Trí Hải, thỉnh hỏi về nhân duyên. Thiền sư Dật bảo: “Người xưa nói: Tâm bình thường là đạo, trong suốt mười hai thời khắc ông phóng quang động địa chẳng tự nhận biết, hướng ngoại rong ruổi tìm cầu, chuyển dần xa ra”. Cư sĩ càng thêm nghi ngờ chẳng hiểu. Một đêm nọ vào thất, Thiền sư Dật nêu trong sách Truyền đăng có ghi chép là “Quốc Vương Hương Chí đến hỏi Tôn giả Ba-lađề: “Thế nào là Phật?” Tôn giả đáp: “Kiến tánh là Phật”, đề hỏi Cư sĩ, Cư sĩ không trả lời được, tâm nghi ngờ càng thêm lên, bèn trở về nằm ngủ. Ngủ say mãi đến trống canh năm khua động, tỉnh giấc Cư sĩ mới nghĩ nhớ đuổi theo câu hỏi ấy, bỗng nhiên thấy các thứ tướng khác lạ thấu triệt cả trong ngoài, sáu căn chấn động, đất trời xoay quanh, như mây tan trăng tỏ, mừng chẳng thể tả, bỗng dưng mới nhớ được lời dạy răn của Thiền sư Cảo ở Thiều sơn lúc giả biệt. Hằng cố đè nén đợi đến sáng, Cư sĩ vào ngay nơi Thiền sư Dật tỏ bày tất cả sở đắc của mình. Thiền sư Dật vì chứng cứ đó mà bảo là: “Lại phải dụng được mới được”. Cư sĩ nói: “Chẳng là cốt yếu phải giẫm giày ư?” Thiền sư Dật gắt lời bảo: “Cái ấy là việc gì mà nói là giẫm giày?” Cư sĩ bèn im lặng thầm khế ngộ, mới trước thuật “phát minh tâm địa tụng” gồm tám bài, và “Minh đạo dụ Nho thiên” để cảnh răn người đời, văn từ viết là: “Minh Ðạo ở tại kiến tánh, sở ngộ của tôi là kiến tánh mà thôi”. Mạnh Tử nói: “Miệng đối với mùi vị, mắt đối với cảnh sắc, tai đối với âm , mũi đối với mùi thơm. Tứ chi đối với An dật mà làm tánh”. Dương Tử nói: “Thấy nghe ngôn từ dung mạo tư duy tánh vốn có. Có thấy ở đây thì hay rõ Ðạo vậy”. Phải biết Ðạo chẳng xa người. Người đối với đạo như cá đối với nước chưa từng xa lìa trong khoảnh khắc chỉ vì mê quên lãng mình rong đuổi theo vật, nên trọn đời do đó mà chẳng thể biết. Phật gọi là Ðại giác, Nho gọi là Tiên giác, chính là Giác (tỏ biết) cái này vậy. Người xưa có nói là “xưa nay nên không rơi lạc, rõ ràng tại trước mắt”. Lại nói: “Ðại đạo chỉ tại trước mắt. Cốt yếu là trước mắt mà khó thấy. Muốn biết được thật thể của Ðại đạo, chẳng lìa nơi sắc ngữ ngôn”. Lại nói: “Ðêm đêm ôm Phật ngủ, mỗi sáng cùng Phật dậy. Dậy ngã trấn cùng theo, nói nín đồng từng ở, muốn biết nơi Phật đi, chỉ nói tiếng ấy vậy”. Tiếng Phật nói đây là rất thân gần. Ðứng thì thấy cùng tham phía trước. Ở kiệu thì thấy tựa tại đòn ngang, trông nhìn thì tại trước, bỗng nhiên hiện ở sau. Lấy đó, hai bên gặp được nguồn. Nói đạo của Nho ở đây rất gần. Cớ sao Ðạo đây chỉ có tâm truyền? Bởi chẳng lập văn tự, Ðức Thế Tôn nhơn nắm cành hoa mà diệu tâm trao truyền Tôn giả Ca-diếp, Tổ sư Ðạt-ma xoay mặt vách tường mà Tông yếu trao cho Thần quang. Sáu cành đã nở, ngàn hoa đua xinh, phân Tông sắp phái mỗi tự có môn phong. Nêu hoặc nháy mắt dương mày, chống nắm chỉ chỏ, hoặc thực hiện bắng đánh gậy, bằng la hét, dựng đứng phất trần nắm lấy cái dùi, hoặc nắm kéo tay trương cung trục cầu mua hát, hoặc chọi đá ném đất, đánh trống thổi lông, hoặc một chấm một lời, một kêu gọi, một nụ cười, cho đến các thứ phương tiện đều là thân thiết vì người. Nhưng chỉ vì rất thân gần nên con người phần nhiều sai lầm, liếc nhìn trông thấy chẳng cách biệt mảy may. Ðó hoặc như là trầm ngâm xa vời muôn dặm, người muốn rõ đạo nên không bất chợt. Tổ tổ tương truyền mãi đến nay không dứt tuyệt, thật đắc với Nho giáo ta chỗ gọi là phẩn giận mà chẳng mở phát mà chẳng trái đó vậy. Tôi có được, thật tại môn này, trở lại nghĩ Nho giáo tôi tự có đạo ấy. Tốt lành thay! Khổng Tử nói là “im lặng mà biết đó suốt cùng nhất quán, nên mắt đánh mà đạo còn, chỉ lòng bàn tay mà ý dụ. Phàm được như vậy đều hợp với diệu chỉ của Tông môn, đắc thật có của giáo ngoại. Nhưng mà đạo của Khổng Tử truyền đến Tử Tư, Tử Tư truyền đến Mạnh Tử, Mạnh Tử đã qua đời, không ai được truyền đạo ấy mà sở dĩ lưu truyền nơi đời là đặc biệt do từ văn tự vậy. Nên học của tôi hẳn câu tự đắc mà sau đã. May tôi trong một đêm được khai ngộ. Phàm mọi sự mắt thấy, mọi điều tai nghe, mọi sự tâm suy tư, mọi lời đàm nói, mọi cử chỉ vận động của tay chân không gì chẳng là huyền diệu. Ðạt được đó đã lâu, ngày càng thấy rõ trước mắt, thường đem cho người mà người chẳng thể nhận. Nhưng về sau, biết diệu đạo ấy quả thật chẳng thể dùng văn tự để lưu truyền. Than ôi! Là đạo. Có người ấy thì truyền, không người ấy thì tuyệt, tôi đã được đó vậy. Ai tự biết đó ư? Trọn đời tôi mà có người ấy chăng? Hoặc không có người ấy chăng? Do Bất khả đắc mà biết vậy, nên vì ghi lời tụng ca để lưu bá việc ấy và trước thuật Thiên này để khuyến dụ học trò của Tôi vậy”.
