0-TS Pháp Xướng Ỷ Ngộ

Tiểu Sử

Danh Tánh 0-TS Pháp Xướng Ỷ Ngộ -
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối Pháp0-TS Bắc Thiền Trí Hiền
Đồng Môn ♂️ 0-TS Nam Nhạc Tử Tường, ♂️ 0-TS Bạch Triệu Thùy Tố, ♂️ 0-TS Bắc Thiền Thuận, ♂️ 0-TS Hưng Hóa Huy, ♂️ 0-TS Quảng Nhân Trạch Yếu, ♂️ 0-TS Hưng Hóa Thiệu Tiên
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Tuệ Nhật, ♂️ 0-Sơn Chủ Đại Hòa, ♂️ 0-TS Ngũ Phong Mật
#2Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Tuệ Nhật

Hành Trạng

2. Thiền sư Ỷ Ngộ ở Pháp xướng. Thiền sư Ỷ Ngộ ở Pháp xướng vốn người dòng họ Lâm ở Chương châu. Thuở thiếu thời, Sư bỏ nhà đến nương tựa ở Sùng phước thuộc trong quận mà được độ, Sư có chí lớn. Từ khi thọ giới Cụ túc xong, Sư du phương tham học, tiếng tăm vang vọng khắc các pháp tịch Tùng lâm. Hòa thượng Viễn ở Phù sơn từng chỉ Sư mà nói với mọi người: “Ðó là mô dạng hành khất của người hậu học”. Sư đến tham Thiền sư Trí Hiền ở Bắc thiền. Thiền sư Trí Hiền hỏi: “Ông sắp xa lìa xứ nào?’ Sư đáp: “Phước nghiêm”. Thiền sư Trí Hiền bảo: “Nghĩ lỗ mũi lớn dài ít nhiều?” Sư đáp: “Cùng đồng như Hòa thượng thời bấy giờ thấy đến”. Thiền sư Trí Hiền bảo: “Ông thử nói Lão Tăng lúc thấy đó lớn bao nhiêu?” Sư đáp: “Hòa thượng lớn tợ như chưa từng đến Phước nghiêm”. Thiền sư Trí Hiền cười, bảo: “Cái hàng học nói?” Lại hỏi: “Lúc lại, Ðại sư Mã có khỏe không?” Sư đáp: “Khỏe”. Lại hỏi: “Nói với ông điều gì?” Sư đáp: “Khiến Bắc thiền chớ loạn tất cả”. Thiền sư Trí Hiền bảo: “Nghĩ ông mới đến nên chẳng muốn đánh ông”. Sư nói: “Ỷ Ngộ cũng buông tha qua cho Hòa thượng”. Sau khi tan cuộc, Thiền sư Trí Hiền lại hỏi: “Làng xóm ông là gì?” Sư đáp: “Chương châu”. Lại hỏi: “Tam bình ở kia làm việc gì?” Sư đáp: “Nói Thiền nói Ðạo”. Lại hỏi: “Ông tuổi bao nhiêu?” Sư đáp: “Ðồng tuổi với sương móc cột trụ”. Lại hỏi: “Có sương móc cột trụ thì đồng tuổi, không sương móc cột trụ thì tuổi ít nhiều?” Sư đáp: “Không sương móc cột trụ, một tuổi cũng chẳng ít”. Thiền sư Trí Hiền bảo: “Nửa đêm thả gà quạ”. Nhân lời nói đó mà Sư lộn ngược tâm và phụng thờ Thiền sư Trí Hiền. Về sau, vân du đến Tây sơn, trông nhìn song Lãnh sâu xa, Sư bèn dừng ở đó ba năm, cùng với Thượng tọa Anh Thiệu Võ Thắng vân du. Ðáp lại sự thỉnh mời của háp xướng, lúc giả biệt nhau, Sư nói: “Ba năm chạm đầu không việc gì chẳng biết, kiểm điểm tương lai không gì chẳng rỉ hỏng”. Sư nắm chiếc gậy họa vẽ một đường, bảo: “Cái ấy tạm dừng, còn việc Tông phong làm sao sống?” Thượng tọa Anh Thiệu nói: “Ðem núi Tu-di đặt để trong lỗ mũi”. Sư bảo: “Ðến gần bờ trông nhìn khóe mắt, đặt đất một trường sầu”. Thượng tọa Anh Thiệu nói: “Cát sâu gắng sức tròng mắt”. Sư bảo: “Tranh gì Thánh phàm không khác lối, phương tiện có nhiều môn”. Thượng tọa Anh Thiệu nói: “Rắn sắt khóa chẳng vào”. Sư bảo: “rất có nơi cùng nói: “Thượng tọa Anh Thiệu nói: “Tự duyên căn lực cạn, chớ oán mặt trời xuân”. Và liền họa vẽ một đường, nói: “Tông phong thả tạm dừng. Cái việc ấy làm sao sống?” Sư liền cho một bàn tay. Thượng tọa Anh Thiệu ước dừng, nói: “Gả Chương Châu chớ không đi đến”. Sư bảo: “Người làm cái thấy biết ây, không đánh thì đợi đến lúc nào?” Sư lại cho một bàn tay. Thượng tọa Anh Thiệu nói: “Cũng là ta đến được, Pháp xướng tại phía Bắc Phần ninh. Ngàn núi muôn hang phòng nhà xưa vài gian”. Sư đến nhóm lửa cày ở An lạc, lúc Nạp tự có người đến, đều chẳng kham nhận sự khô khan đạm bạc ấy, ngồi đây thành một Ðinh lẻ. Ngày khai lò, Sư nắm một cây dao khua trống, ngồi giữa thềm, Sư bảo: “Ngày nay pháp xướng mở lò, hành khất Tăng không một cái, chỉ có mười tám cao nhân ngậm miệng ngồi vây quanh lò đả tọa, chẳng là khuôn phép nghiêm ngặt khó khỏi thấy câu thoại của các người rơi lạc. Ngay như nhiều miệng tợ như quả cân chưa khỏi đèn lồng khám phá. Chẳng biết đạo dứt tuyệt công luân uổng dùng tu nhân chứng quả”. Sư hét một tiếng, rồi bảo tiếp: “Tỳ-da ngậm miệng bắt chước Tông thừa, non Thứu niêm hoa, phiên thành thuốc độc, chín năm ngồi xoay mặt vách tường độn đặt viên Tông, nửa đêm truyền y khinh thường kia hậu học. Mà Tổ cho là tức tâm là Phật lớn tợ giữ gốc cây đợi thỏ, Bàn sơn cho là chẳng phải tâm chẳng phải Phật, có thể gọi là hòa bùn hợp nước. Những sự thấy như thế đều là bại hoại Tông phong tổ ấn diệt hủy chủng tộc, thừa tiếp hư hưởng, lừa dối Thánh hiền, hậu học không tội gặp phải chỉ dừng ấy. Nếu luận bàn về việc ấy thì chư Phật chẳng từng xuất hiện nơi đời, cũng không một pháp cho người. Tổ sư Ðạt-ma chẳng từ Tây vức lại. Nhị Tổ không được cốt tủy, thẳng được phong hóa Hoàng vương, mênh mông khúc hát lão già miền quê. Tâm không chỗ cậy, hạnh chẳng nơi nương. Nghe Thiền và đạo tợ như gặp gỡ oan gia, nóisắc và tâm tợ hồ gặp hổ dữ. Pháp xướng về sau cho ngươi hái rau láđồng hoang, giả lúa gạo làm cơm hòa la, nấu canh cốt đổng, đói liền ăn, mệt liền ngủ, chẳng do các ngôi vị mà tự sùng cao, chẳng học ba thừa lập giờ giấc ăn”. Có Thiền sư Khoan ở Ðại ninh đến, Sư họa vẽ nơi đất hình tướng con trâu (?) và kéo chiếc vạc ra. Ngày hôm sau chưa lên thềm ngồi, Sư nói cùng Thiền sư Khoan rằng: “Công án ngày qua như thế nào?” Thiền sư Khoan cũng họa vẽ hình tướng con trâu (?) ấy và liền vụt buông đó. Sư bảo: “Thiền sư Khoan thiền đầu gọi xuống không dối người”. Lên bệ thềm ngồi, Sư bảo: “Bỗng nhiên đất tạnh, giữa trời sấm sét nổ vang, võ môn ba cấp sóng tung cao, có bao nhiêu đầu sừng làm rồng đi, cua tôm gắng sức tròng mắt”. Lại có Thiền sư Nam đến, Sư vừa mới trồng tùng, Thiền sư Nam hỏi: “Viện nhỏ trồng nhiều tùng làm gì?” Sư đáp: “Lâm Tế nói đến”. Lại hỏi: “Trồng được ít nhiều?” Sư đáp: “Chỉ thấy Quyến khóc, hạc đêm bay vút lướt mây”. Thiền sư Nam chỉ vào đá và hỏi: “Trong đó cớ sao chẳng trồng?” Sư đáp: “Công không lãng phí”. Thiền sư Nam nói: “Cũng biết nơi không hạ thủ”. Sư liền chỉ cây tùng trên đá và bảo: “Từ xứ nào mà được lại đây?” Thiền sư Nam cười, nói: “Trời xanh! Trời xanh!” mới làm bài kệ tụng rằng: “Ðầu đội khăn hoa liều Thiếu thất Tay dẫn mãn chiếu ra Trường an Dưới núi Thứu phong lại cùng gặp Lỗ mũi vốn là một loại thôi”. Và lại họa vẽ tướng tròn mà chỉ bày đó, Sư bảo: “Hồ lô trên gác ném bí dưa Trong đống nước gạo câu được tôm Ai ở lầu họa nơi bán rượu Cùng mời lại uống trà Triệu châu”. Và Sư lại vẽ tướng mà đáp đó. Thiền sư Nam nói: “Trâu sắt cân đối sừng vàng ròng Ngữa gỗ cặp cặp móng ngọc trắng Vì mến Tuyết sơn hương cỏ mịn Ðêm khuya nương trăng sang Tiền Hán”. Lại họa vẽ hình tướng mà nêu bày đó. Sư nói: “Vảy ngọc mang trăng lìa đêm Hán Phùng vàng ngậm hoa xuống Thái lâu Già quê chẳng hiềm công tử say Cùng dẫn tay nhau đi đường vua”. Và Sư họa vẽ hình tướng mà đáp đó. Sư lại cùng Thiền sư Nam nêu trình câu thoại của Ðại Khanh nhìn duyên sinh. Sư hỏi: “Hòa thượng sao chẳng ngay đó cùng kia hớt lấy dứt tuyệt đi?’ Thiền sư Nam đáp: “Cũng từng làm rắn họa chân lại, là kia chẳng tự liếc nhìn đất”. Sư hỏi: “Cớ sao Hòa thượng làm vậy?” Thiền sư Nam đáp: “Ăn hết gừng sống uống hết giấm”. Sư bảo: “Lưu tục sao Sư lại đi vậy?” Thiền sư Nam đáp: “Hòa thượng làm sao sống?” Sư liền nắm phất trần mà đánh. Thiền sư Nam nói: “Gã già này cũng là không tình người”. Lúc bấy giờ Thiền sư Nam là người rất được các chốn Tùng lâm trong thiên hạ tôn sùng, mà Sư cùng Thiền sư Nam xướng đáp như giao bạn, nên một lúccác hàng hào kiệt phần nhiều đều quy hướng. Từ Công Hy ở Long hồ lúc đang mặc áo vải cùng Sư qua lại giao du làm pháp hỷ. Trước lúc thị tịch một ngày, Sư có làm kệ tụng dặn dò lại rằng: “Năm nay bảy mươi bảy (77) Ra đi phải chọn ngày Ðêm qua hỏi quy ca Báo sáng ngày này tốt”. Từ Công Hy đọc xem kệ mà rung động, mời Thiền sư ở Linh nguyên đồng sang, thì Sư mới ngồi trtong phòng ngủ, dặn dò Tri sự về mọi việc trong viện rằng: “Tôi ở tại núi này suốt hai mươi hai năm, giữ gìn quý trọng mọi vật của Thường trú, thường tự khóc đó, ngày nay ra đi, các ông phải mang giữ tinh thể”. Nói xong, Sư lại nâng chiếc gậy mà hỏi: “hãy nói cái này phân giao cho ai?” Từ Công Hy và Thiền sư Thạnh đều ngưng nói hơi thở. Sư bèn ném chiếc gậy, nằm xuống giường, gối đầu lên cánh tay mà tịch.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.