TS Tuệ Nghiêm

Tiểu Sử

Danh Tánh TS Tuệ Nghiêm -
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối PhápTS Cưu Ma La Thập - Khai Tổ Thành Thật Tông Trung Hoa
Đồng Môn ♂️ TS Tăng Dực, ♂️ 0-TS Tuệ Tuân, ♂️ 0-TS Tăng Tung, ♂️ TS Tăng Nghiệp, ♂️ 0-TS Tăng Giai, ♂️ TS Đạo Ôn, ♂️ 0-TS Tăng Nhàn, ♂️ TS Tăng Đạo, ♂️ TS Đàm Vô Thành, ♂️ TS Tuệ An, ♂️ TS Đàm Giám, ♂️ TS Tăng Bao, ♂️ TS Tăng Bật, ♂️ TS Tuệ Quán, ♂️ TS Tuệ Duệ, ♂️ TS Trúc Đạo Sanh, ♂️ TS Tăng Triệu, ♂️ 0-TS Đạo Tiêu, ♂️ TS Đạo Hằng, ♂️ TS Tăng Duệ, ♂️ TS Đàm Ảnh, ♂️ 0-TS Pháp Khâm, ♂️ 0-TS Tăng Tiên, ♂️ TS Đạo Dung, ♂️ 0-TS Tăng Lược, ♂️ 0-TS Tăng Tuân
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Pháp Chí
#2Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Pháp Chí
Tịch#1Viên Tịch435

Hành Trạng

Tuệ Nghiêm: Ngài vốn họ Phạm, người Dự châu, năm mười hai tuổi làm một người học trò hiểu rộng thi thơ. Mười sáu tuổi xuất gia, lại lão luyện lý Phật. Vừa mới hai mươi tuổi thì đã học thông suốt các sách vở. Tin đồn vang khắp nơi, truyền ra các nước lân bang.

Hay tin ngài La-thập ở Quan Trung, Ngài đến đó cầu học. Tham vấn nghĩa âm chánh pháp và được nghe rất nhiều điều đặc biệt. Sau đó trở về kinh sư ở chùa Ðông An. Tống Cao Tổ vốn đã kính trọng. Khi Ông đến chinh phạt ở Trường An muốn Ngài đi chung.

Ngài nói:

- Bệ hạ đi chuyến này tuy là phạt kẻ tội cứu dân lành nhưng bần đạo là người ngoại cuộc không dám vâng lệnh.

Vua tha thiết mời Ngài đi thế là Ngài đành chấp thuận. Cho đến khi Văn Thành Ðế lên ngôi. Tình cảm càng khắn khít hơn. Thường tham kiến hỏi đáp Phật pháp. Vì trước đây vị vua này chưa sùng tín lắm. Ðến niên hiệu Nguyên gia thứ 12, Y Tiêu Mô ở kinh đô dâng sớ xin vua cho xây chùa và đúc tượng. Vua bèn cho thị trung Hà Thượng Chi, sử bộ lang trung Dương Huyền Bảo v.v... cùng bàn bạc. Rồi vua bảo Thượng Chi rằng:

- Trẫm từ bé tới giờ đọc kinh chưa nhiều, so với hôm nay thì càng không rảnh, nhân quả ba đời chưa hiểu rõ ràng, mà lại không dám lập dị. Chính vì các khanh khởi lòng tôn kính vậy. Phạm Thái, Tạ Linh Vận thường nói:

- Văn nghĩa của lục kinh vốn để cứu đời, nhất định phải tìm tánh linh chân áo. Ðâu không lấy kinh Phật để làm kim chỉ nam ư. Gần đây thấy Tánh Luận của Thôi Ðạt Nhan Diên, khen Bạch Hắc Luận của Tông Bỉnh, nói toàn về Phật pháp càng làm rõ danh từ nghĩa lý, đồng thời thấy rõ ý khuyến khích người. Giả sử dân trong cả nước đều chủ trương sự giáo hóa này thì trẫm ngồi yên thái bình, đâu còn lo việc gì nữa. Gần đây Tiêu Mô thỉnh chế chưa thông hết kinh, bèn cho là rõ, nếu giao cho khanh thì càng tổn thêm và nhất định sẽ có sự ngăn trệ. Giới chế ra để cứu đời không làm tổn thương họ. Các khanh hãy chấp lệnh.

Thượng Chi đáp:

- Kẻ hoang đường phần đông không tin Phật pháp. Ðem tài mọn của thần mà khai sáng sự ngu mê ấy e rằng đem các thiếu sót cạn cợt gán thêm vào đại giáo. Nay lại đảm đương việc xiển dương ấy thì thật chẳng dám. Chí như những bậc anh hào đời trước thì không phụ minh chiếu. Những người trung của triều đình đã xa thì khó biết được. Từ khi sang sông đến đây thì Vương Ðạo, Chu Ký, Dữu Lượng, Vương Mông, Tạ Thượng, Khích Siêu, Vương Ðán, Vương Cung, Vương Mật, Quách Văn, Tạ Ân, Ðới Quỳ, Hứa Tuân và anh em của Cao Tổ đã mất như Vương Nguyên, Lâm Côn, Lý Phạm Chú, Tôn Xước, Trương Huyền, Ân Ký, có người khoác áo mão làm quan tể tướng, có người làm vũ nghi cho nhân luân, có người đặt mối quan hệ tình thân giữa Thiên nhơn. Hoặc có người xóa vết xấu nhơ của đời, đều bẩm thọ quy y, một mực sùng tín. So sánh với những người đó thì Lan, Hộ, Khai, Tiềm Uyên, Ðộn, Sùng, Thúy đều là bậc thấp hơn một bực, hoặc người không ngờ đến được. Thời này đạo tục so biện hơn thua. Như muốn đưa Di Hạ để thay thế Hán Ngụy. Những bậc kỳ tài dị đức đâu thể luận nổi. Pháp sư Tuệ Viễn có lần nói:

- Sự giáo hóa của đạo Phật điều gì cũng làm được. Nói về đạo ắt phải từ nguồn giáo, đổi mới phong tục cũng là việc cần thiết. Trộm tìm những lời này có phù hợp với lý mầu vậy. Vì sao? Giả sử nhà nào cũng trì giới thì cả nước dứt hình phạt, cho nên Phật Ðồ Trừng đến nước Triệu thì hai nhà họ Thạch bớt sự tàn bạo. Tháp linh phóng quang thì Phù Kiên giảm bạo ngược. Cho nên Thần Ðạo trợ giáo có từ xưa nay mà sự khải thỉnh của Tiêu Mô cũng không thể cho là sai hết. Nhưng đều gọi là làm tổn thương côn trùng đạo tục là do nơi tăng sư vô hạnh. Vả lại tâm tướng khó phân, lấy bỏ cũng không dễ. Vàng đồng cát gỗ tuy chẳng hao tổn gì cho lắm mà phước nghiệp gởi vào đó lại khó thể đốn tuyệt. Thần canh cánh trong lòng và đắn đo tiến thối không an. Hôm nay đích thân phụng thừa đức âm thật cũng nhờ di thái (sự bình yên).

Dương Huyền Bảo tiến lên nói:

- Lời này bao trùm cõi thiên nhơn. Ðâu phải điều thần dự định. E rằng Tần Sở luận về thuật cường binh. Tôn Ngô bàn kế thôn tính. Ðâu không áp dụng những điều này ư?

Vua nói:

- Ðây chẳng phải khí cụ thời chiến quốc, đúng như lời khanh nói.

Thượng Chi nói:

- Luận về ẩn dật thì chiến sĩ biếng nhác, quý nhân đức thì binh khí suy. Nếu lấy việc Tôn Ngô làm chí thì trong chuyện thôn tính cũng không áp dụng đạo của Nghiêu Thuấn. Ðâu chỉ giáo pháp của Thích-ca mà thôi.

Vua rạng rỡ nói:

- Thích môn có khanh cũng như Khổng tử có Quý, Lộ vậy. Ðó gọi là lời xấu không để tai.

Từ đó vua bắt đầu tạo dựng niềm tin, và để tâm đến kinh Phật. Cho đến khi gặp Nghiêm, Quán, và chư tăng thì liền đàm luận nghĩa lý kinh điển. Khi ấy Nhan Diên soạn bộ Ly Thức Quán và Luận Kiểm. Vua mời ngài Tuệ Nghiêm biện biệt về điểm dị đồng trong luận đó. Biện tới lui cả ngày vua cười nói:

- Các khanh hôm nay không lấy làm hỗ thẹn với Chi Khiêm. Sau đó ngài Tuệ Nghiêm trước tác bộ Vô Sanh Diệt Luận và Lão tử Lược Chú. Hà Thừa Thiên ở Ðông Hải là người tài cao, tăm tiếng. Ông hỏi ngài Tuệ Nghiêm rằng:

- Phật quốc sẽ dùng lịch gì.

Ngài đáp:

- Ngày hạ chí ở Thiên Trúc vừa đúng ngọ thì không thấy bóng. Ðó gọi là Thiên trung. Trong ngũ hành màu sắc đức của đất là màu vàng. Tám tấc làm một thước, một lượng tương đương với xứ này mười hai lượng. Tính tháng ba làm đầu năm. Và tra xét, nghiên cứu phân tích, hiệu đính sự kém yếu của nó. Chiếu cố đến quang cảnh pháp ấy càng rõ ràng. Túc độ niên kỷ đều có điều lệ.

Thừa Thiên không còn chỗ nào cật vấn nữa. Sau đó có người từ nước Bà-lợi đến quả đúng như lời ngài Tuệ Nghiêm nói. Vua sắc lệnh mời ông tham dự.

Kinh Niết-bàn vừa đến đất Tống. Văn từ rất hay song phẩm số còn sơ sài đơn giản, kẻ sơ học khó phân định. Ngài cùng Tuệ Quán, Tạ Linh Vận, v.v... căn cứ vào các phẩm mục của bổn Nê-hoàn, văn tuy có thừa ra nhưng cũng có phần thay đổi cho hoàn chỉnh. Ban đầu có mấy quyển lưu hành. Ngài Tuệ Nghiêm một hôm nằm mộng thấy một người dáng vẻ lạ lùng. Nghiêm giọng bảo Ngài rằng:

- Niết-bàn Tôn kinh cớ sao lại châm chước thêm vào.

Ngài giật mình tỉnh dậy, bèn nhóm chúng tăng lại và muốn thu lại những bản trước. Khi ấy những bậc thức giả đều nói:

- Ðiều nầy chắc có lẽ muốn răn đe người đời sau thôi. Nếu không thích ứng thì làm sao cho phép mộng tức thời. Tuệ Nghiêm cũng cho là như vậy. Chẳng bao lâu thấy thần đến bảo:

- Ông nhờ công lao hoằng kinh nhất định được thấy Phật. Ngài thị tịch nhằm niên hiệu nguyên gia thứ 12 đời Tống1(435), ở nơi chùa Ðông An. Thọ tám mươi mốt tuổi.

Vua ban chiếu:

- Nghiêm Pháp sư khí thức uyên viễn, học đạo an tượng.

Vua tỏ lòng thương tiếc, quyến luyến trước sự ra đi của Ngài. Còn cấp cho năm vạn tiền, vải năm mươi xấp. Ngài Pháp Trí là đệ tử của ngài Tuệ Nghiêm thuở nhỏ có thần lý, đến năm hai mươi bốn tuổi qua Giang Lăng gặp Pháp Nhã giảng pháp, cùng luận nghị mấy phen. Ngài Pháp Nhã không hiểu suốt, rồi ngoái nhìn tứ chúng nói:

- Chú nhỏ này văn tài nổi bật.

Pháp Trí cười nói làm cho Nhã quay cuồng. Thế là tiếng tăm của ông lan khắp Sở Trịnh, danh truyền đến kinh Ngô. Rất giỏi về Thành Thật luận và Ðại Tiểu phẩm.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.