0-TS Kính Sơn Bảo Ấn

Tiểu Sử

Danh Tánh 0-TS Kính Sơn Bảo Ấn -
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối Pháp0-TS Hoa Tạng An Dân
Đồng MônN/A
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Kim Sơn Vĩnh Thông, ♂️ 0-TS Kim Sơn Ðạo Kỳ

Hành Trạng

1. Thiền sư Bảo Ấn ở Kính sơn. Thiền sư Bảo Ấn - Biệt Phong ở Kính sơn tại phủ Lâm an, vốn người dòng họ Lý ở Gia châu. Từ thuở bé thơ, Sư đã học thông sáu kinh, mà nhàm chán việc thế tục, mới đến nương tựa Thiền sư Tố ở Ðức sơn cầu xin xuất gia, đắc độ thọ giới Cụ túc, tiếp đó nghe học kinh Hoa Nghiêm, luận Khởi tín đã xong hết, Sư giã từ tiếp đến nương tựa Thiền sư Mật Ấn ở Trung phong. Một ngày nọ, Thiền sư Mật Ấn nêu cử: “Có vị Tăng hỏi Nham Ðầu: “Lúc khởi diệt không ngưng dứt thì thế nào?” Nham Ðầu bảo: “Là ai khởi diệt?” Ngay lời nói ấy, Sư bèn mở mang tỏ ngộ liền gật đầu. Gặp lúc Thiền sư Viên Ngộ về ở Chiêu giác. Thiền sư Mật Ấn bảo Sư đến đó tỉnh xét. Sư nhân theo chúng vào thất, Thiền sư Viên Ngộ hỏi: “Từ xưa trước các Thánh lấy gì đãi tiếp người?” Sư dựng đứng nắm tay. Thiền sư Viên Ngộ tiếp hỏi: “Ðó là chỗ dùng của Lão Tăng, còn làm sao sống là chỗ dùng của các Thánh từ xưa trước?” Sư đưa nắm tay vung một cái. Thiền sư Viên Ngộ cũng đưa nắm tay lên, cùng giao nhau cười lớn mà thôi. Sau đó đến Kính sơn, Sư bái yết Thiền sư Ðại Tuệ (Tông Cảo). Thiền sư Ðại Tuệ hỏi: “Ông từ đâu đến?” Sư đáp: “Từ Tây xuyên đến”. Thiền sư Ðại Tuệ bảo: “Chưa ra ải Kiếm môn, cho ông ba mươi gậy rồi vậy”. Sư thưa: “Hòa thượng chẳng hợp khởi động”. Thiền sư Ðại Tuệ vui vẻ tự nhiên quét thất mời Sư vào. Sau đó, Thiền sư Ðại Tuệ dời về phương Nam, Sư mới về lại phương Tây, liên tiếp làm chủ vài ngôi chùa. Sau lại ra giáp, đến ở các chùa Bảo ninh, Kim sơn, Tuyết đậu, Kính sơn. Ngày khai đường giảng pháp, lên tòa Sư bảo: “Ðức Thế Tôn lúc mới thành Ðẳng Chánh giác, ở trong vườn Lộc dã chuyển pháp luân giảng pháp Tứ đế, Tỳ-kheo Kiều Trần Như ngộ đạo đầu tiên. Về sau, Thiền sư Chân Tịnh lúc mới đến ở Ðộng Sơn, niêm rằng: “Ngày nay trong động Tân phong chỉ chuyển cái cây gậy”. Bèn nắm cây gậy bên tả tiếp hỏi: “Lại có người ngộ đạo đầu tiên chăng? Nếu không thì bậc Trượng phu phải tự có chí xung thiên, chớ thực hành theo chỗ Như Lai hành”. Và hét một tiếng rồi xuống khỏi tòa. Nếu là Thượng tọa Mật Ấn thì không như vậy. Ngày nay hướng đến trong núi Phụng hoàng, mới đầu không công phu chuyển pháp luân bốn đế, cũng không sức lực chuyển cây gậy, chỉ dạy các người là đi nên nước thư thả, nói phải nhỏ lời. Sao vậy? Nếu muốn chẳng vời nghiệp vô gián, thì chớ phỉ báng chánh pháp luân của Ðức Như Lai”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Chư Phật ba đời dùng một câu diễn nói trăm ngàn muôn ức câu, gom thâu trăm ngàn muôn ức câu chỉ ở tại một câu. Môn hạ Tổ sư nửa câu cũng không. Chỉ nghĩ gì đáng ăn nhiều ít cày gậy đau. Các Nhân giả! Phật là phải? Hay Tổ tư là phải? Nếu nói Phật là phải, Tổ chẳng phải. Tổ là phải, Phật chẳng phải thì lấy bỏ chưa quên mất. Nếu nói Phật và Tổ đồng một lúc là phải, Phật và Tổ đồng một lúc chẳng phải là mập mờ không ít. Hãy cắt đứt dây leo một câu làm sao sống? Nói. Trùng lớn trong khăn giấy khéo cười lại kinh người”. Sư lại nêu cử: “Có vị Tăng hỏi Nham Ðầu: “Mênh mông giữa trần làm sao biện rành chủ?” Nham Ðầu đáp: “Trong la Ðồng cát đựng đầy dầu”. Xong, Sư bảo: “Lớn nhỏ Nham Ðầu đánh mất lỗ mũi”. Bỗng có người hỏi Bảo Ninh: “Mênh mông trong Trần làm sao biện rành chủ?” Chỉ nên đáp với người đó là: “Trời lạnh chẳng kịp trùm khăn”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Ngày mồng tháng 06 thiêu đốt giữa không trung đỏ rực mặt nhật. Ðầu đường ngã tư tuyết sâu một thước. Quét dọn không xong, tránh né chẳng kịp. Lạnh cóng Hổ Tử trong thôn đông quạnh vắng, nửa đêm mang giày nước lên đứng”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Ðem tâm trừ vọng, vọng khó trừ, tức vọng minh tâm đạo chuyển xa, đáy thùng vọt xuyên không húy kỵ, đẳng nhàn một bước một hoa sen”. Sư đến Kính sơn, đượm hợp khắp xa, Hiếu Tông Hoàng đế (Triệu Thận 1163-1190) thời Nam Tống, mời Sư đến điện Tuyển đức cùng đàm đạo Sư ứng sắc chỉ vào đối đáp, mỗi ngày được sắc ban kiệu khiêng đến trong cửa Ðông hoa. Ðến tháng hai năm (?) thứ mười, vua chú giải kinh Viên Giác, sai sứ đưa lại thỉnh mời Sư viết lời tựa. Lúc Sư tuổi tác đã già lớn càng nhàm chán việc trú trì, vào mùa đông năm (?) thứ mười lăm, Sư tấu trình xin được về am yên tỉnh. Ðến tháng mười một năm Thiệu Hy thứ nhất (1190) thời Nam Tống, Sư đến thăm Thiền sư Trí Sách ở giao thừa, và cùng tỏ bày giả biệt. Thiền sư Trí Sách hỏi ngày đi. Sư đáp: “Nước đến cừ thành”. Trở về, Sư đòi lấy giấy bút viết chín chữ: “Lúc gà gáy đêm mồng 07 tháng 12”. Ðến kỳ hạn Sư bèn thị tịch. Nghinh thỉnh di thể Ngài trở về lại pháp đường ở chùa lưu lại bảy ngày, nhan sắc Sư vẫn sáng nhuần, tóc dài ra, tên đỉnh đầu ấm nóng, qua bảy ngày bèn nghinh đưa an táng tại sườn núi phía Tây của am, tôn phong Sư thụy hiệu là “Từ Biện Thiền sư”, tháp hiệu là “Trí Quang”.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.