Tiểu Sử
Hành Trạng
13. Cư sĩ Cấp sự Phùng Tiếp. Cư sĩ Cấp sự Phùng Tiếp - Tế Xuyên. Từ thuở tráng niên, Cư sĩ đã theo dự tham nơi các bậc danh túc, sau cùng đến ở Long môn, theo Thiền sư Viễn - Phật Nhãn suốt hai năm. Một ngày nọ, cùng Thiền sư Viễn kinh hành nơi pháp đường, bỗng nghe đứa bé chạy giữa sân ngâm rằng: “Trong muôn tượng riêng lộ bày thân”. Thiền sư Viễn vỗ vào lưng Cư sĩ mà bảo: “Hay không?” Ngay lời nói đó mà Cư sĩ khéo ngộ nhập. Ðến năm Ðinh tỵ (1137) thuộc niên hiệu Thiệu Hưng (1131-1163) thời Nam Tống. Cư sĩ làm Cấp sự tại Trừ châu, gặp Thiền sư Ðại Tuệ đến Minh khánh khai đường giảng pháp. Khi Thiền sư Ðại Tuệ xuống khỏi tòa, Cư sĩ vời lại mà hỏi: “Hòa thượng từng nói trước các hàng Quan sĩ đại phu rằng: “Ðời nay quyết chẳng làm con sâu mọt”, vậy ngày nay nhân gì nhận bại khuyết?” Thiền sư Ðại Tuệ bảo: “Khắp đại địa là cái Thượng tọa Cảo, ông đến nơi nào thấy được kia?” Cư sĩ định trả lời. Thiền sư Ðại Tuệ bèn chấp tay. Cư sĩ nói: “Là tôi vời rước được”. Qua hơn một tháng đặc biệt xin đền thờ mà kết hạ, Kính Sơn đề trên bảng nơi phòng thất là “Hiên bất động”, một ngày nọ, Thiền sư Ðại Tuệ lên giảng tòa, nêu cử: “Dược Sơn hỏi Thạch Ðầu rằng: “Với ba thừa, mười hai phần giáo, tôi có biết sơ qua, nhân nghe ở phương Nam chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật, thật sự chưa rõ điều đó, cúi mong dủ lòng từ bi chỉ dạy cho”. Thạch đầu bảo: “Nghĩ gì cũng chẳng phải, Ông làm sao sống?” Dược Sơn mờ mịt. Thạch đầu bảo: “Duyên ông không phải ở đây, có thể đến ra mắt Ðại sư Mã tổ ở Giang tây”. Dược Sơn đến nơi Mã Tổ cũng nêu hỏi như trước. Ðại sư Mã Tổ đáp: “Có lúc dạy người ấy nhướng mày nháy mắt, có lúc không dạy người ấy nhướng mày nháy mắt. Có lúc dạy người ấy nhướng mày nháy mắt là phải, có lúc dạy người ấy nhướng mày nháy mắt là không phải”. Nghe thế, Dược Sơn bèn đại ngộ”. Ðợi đến lúc Thiền sư Ðại Tuệ nêu cử bãi tòa, Cư sĩ mới theo đến nơi phương trượng hỏi: “Vừa rồi Hòa thượng nêu cử nhân duyên ấy, tôi lý hội được rồi”. Thiền sư Ðại Tuệ hỏi: “Ông hiểu như thế nào?” Cư sĩ đáp: “Nghĩ gì cũng chẳng được Tô-rô Ta-bàha, không nghĩ gì cũng chẳng được Tất-lợi Ta-bà-ha”. Thiền sư Ðại Tuệ bèn ấn chứng cho, và nói kệ tụng rằng: “Tiếng Phạm lời Hoa, đánh thành một khối, ôi thay người đời, được Tam-muội này”. Về sau, Cư sĩ lại đến làm Quan tri tại Ngang châu, phàm các nơi đến, Cư sĩ đều ủi an vỗ về không nhọc mệt. Cư sĩ từng ngâm vịnh rằng: “Rảnh rỗi việc công vui tọa thiền, ít hiểu đưa lưng đến giường ngủ, tuy là hiện ra tướng Tể quan. Tên gọi Trưởng giả bốn biển truyền”. Ðến mùa thu năm Thiệu Hưng thứ hai mươi hai (1152) thời Nam Tống. Cư sĩ xin về thôi nghỉ, dự báo cùng thân thích là ngày mồng 03 tháng 10 là ngày ra đi. Ðến ngày đó, Cư sĩ bảo thiết đặt tòa cao nơi hậu sảnh, thấy khách đến vẫn như lúc bình thường. Ðến khoảng giờ thìn giờ tỵ, Cư sĩ xuống trước thềm cấp ngóng trông vào cửa không biết chỉnh túc, mời các Quan sứ tiếp nhận ngang sự, rồi Cư sĩ mặc Tăng y lên ngồi trên tòa cao, dặn dò các Quan lại và các hàng đạo tục, khuyên mỗi người nên hướng đạo hộ trì giáo môn, dựng lấp pháp tràng”. Rồi Cư sĩ bèn nắm cây gậy đặt ngang trên đầu gối, an nhiên mà thâu thần. Các Quan sử cầu xin rằng: “An phủ đi ở tự do như thế, sao chẳng lưu lại một bài kệ tụng để tiêu biểu điều hiếm nghe”. Cư sĩ mở mắt, đòi giấy bút viết rằng: “Mới đầu ba mươi mốt (31), đến giữa bảy (07) dưới chín (09), Lão nhân hết lời, Quy ca đỏ mắt”. Xong rồi, Cư sĩ bèn vĩnh viễn qua đời. Từ sau niên hiệu Kiến Viêm (1127-1131) thời Nam Tống, các chốn danh sơn chùa lớn, Ðại tạng kinh giáo phần nhiều đều chẳng còn. Qua nhiều lần, Cư sĩ đem tất cả bổng lộc của mình có được mà in ấn cúng thí có được cả thảy một trăm hai mươi tám tạng. Cư sĩ dùng lấy đó cầu chúc Thánh quân vạn thọ để khương an triệu dân. Môn nhân Bồ Ðại Sính từng viết Minh Chí việc đó. Cư sĩ có bộ ngữ lục tụng cổ, lưu hành nơi đời.
