Tiểu Sử
|
|
|
|
| Danh Tánh |
0-TS Trung Trúc Trung Nhân -
|
|
| Sư Thừa | #1 | Nối Pháp | Chưa Rõ |
| Nối Pháp | Tổ Thứ 48 - TS Viên Ngộ Khắc Cần Phật Quả - Ðời Thứ 11 Tông Lâm Tế |
| Đồng Môn | ♂️ 0-TS Vân Đảnh Tông Chánh, ♂️ 0-TS Linh Tuyền Hy Thọ, ♂️ 0-Cư Sĩ Môn Ty Trịnh Kham, ♂️ 0-TS Bảo Ninh Tổ, ♂️ 0-TS Cảnh Đức Mân, ♂️ 0-TS U Nham San, ♂️ 0-TS Vĩnh Hoài Hữu Chứng, ♂️ 0-TS Sư Phạm, ♂️ 0-TS Cảnh, ♂️ 0-TS Trí Độ Diễn, ♂️ 0-TS Tự Trân, ♂️ 0-TS Càn Minh Ấn, ♂️ 0-TS Ðạo Thù, ♂️ 0-TS Cửu Đảnh Tông Ngộ, ♂️ 0-TS Giang Ninh Ngộ Minh, ♂️ 0-TS Trường Khê Phát, ♂️ 0-TS Trung Trúc Hải, ♂️ 0-TS Kim Văn Chiếu, ♂️ 0-TS Tứ Minh Hưởng, ♂️ 0-TS Báo Ân Oánh, ♂️ 0-TS Đức Sơn Tĩnh, ♂️ 0-TS Vân Tế Toàn, ♂️ 0-TS Trí Quân, ♂️ 0-TS Bảo Lâm Cần, ♂️ 0-TS Khai Phước Nghi, ♂️ 0-TS Định Sơn Ngang, ♂️ 0-TS Vô Vi Thắng, ♂️ 0-TS Quảng Lợi Xu, ♂️ 0-TS Hiển Báo Dương, ♂️ 0-TS Tây Thiền Thông, ♂️ 0-TS Bạch Thủy Chánh, ♂️ 0-TS Thúy Phong Bật, ♂️ 0-TS Hồng Phước Tử Giao, ♂️ 0-TS Thành Đô Phạm Huyện Quân, ♂️ 0-TS Quảng Lợi Toại, ♂️ 0-Ðạo Nhân Lệnh Nhân Minh Thất, ♂️ 0-Cư Sĩ Thị Lang Lý Di Tốn, ♂️ 0-Đạo Nhân Giác Am Tổ Thị, ♂️ 0-Cư Sĩ Quận Vương Triệu Lệnh Câm, ♂️ 0-Cư Sĩ Xu Mật Từ Phủ, ♂️ 0-TS Trung Nham Chiếu, ♂️ 0-TS Vân Cư Tông Chấn, ♂️ 0-TS Chiêu Giác Ðạo Tổ, ♂️ 0-TS Thiên Phong Giác, ♂️ 0-TS Đông Sơn Giác, ♂️ 0-TS Hổ Khâu Nguyên Tịnh, ♂️ 0-TS Minh Nhân Ðàm Ngoạn, ♂️ 0-TS Thiên Ninh Phạm Tư, ♂️ 0-TS Phước Nghiêm Văn Diễn, ♂️ 0-TS Hoa Nghiêm Tổ Giác, ♂️ 0-TS Chiêu Giác Ðạo Nguyên, ♂️ 0-TS Hoa Tạng An Dân, ♂️ 0-TS Chánh Pháp Kiến, ♂️ 0-TS Nam Phong Vân Biện, ♂️ 0-TS Tượng Nhĩ Viên Giác, ♂️ 0-TS Cửu Đảnh Hy Vấn, ♂️ 0-TS Tín Tướng Viên, ♂️ 0-TS Linh Ẩn Tuệ Viễn, ♂️ 0-TS Thiên Ninh Ðạo Thành, ♂️ 0-TS Phổ Tuệ Nhân Tịnh, ♂️ 0-TS Thanh Khê Thường, ♂️ 0-TS Chánh Pháp Hóa Xung, ♂️ 0-TS Bảo Hoa Hiển, ♂️ 0-TS Hổ Khâu Tông Ðạt, ♂️ 0-TS Phổ Chiếu Phụng Thắng, ♂️ 0-TS Quân Sơn Giác, ♂️ 0-TS Đại Quy Pháp Thái, ♂️ 0-Dục Vương Ðoan Dụ, ♂️ 0-TS Trường Tùng Hiểu, ♂️ 0-TS Bảo Tướng Ðạo Trí, ♂️ 0-TS Huyền Sa Tăng Chiêu, ♂️ Tổ Thứ 49 - TS Hổ Khâu Thiệu Long - Ðời Thứ 12 Tông Lâm Tế, ♂️ 0-TS Đại Huệ Tông Cảo, ♂️ 0-TS Huệ Viễn Hạt Đường, ♂️ 0-TS Hộ Quốc Cảnh Nguyên |
Hành Trạng
5. Thiền sư Trung Nhân ở Trung trúc. Thiền sư Trung Nhân ở Trung thiên trúc huyễn đường tại phủ Lâm an, vốn người xứ Lạc dương. Thủa thiếu thời Sư đến nương tựa ở vị Phụng tiên tại Ðông kinh cầu xin xuất gia. Khoảng đầu niên hiệu Tuyên Hòa (1119) thời Bắc Tống, Sư được ban sắc điệp xuống tóc tại điện Khánh cơ. Sau khi thọ giới Cụ túc, Sư qua lại nơi phiên dịch Tam Tạng đọc xem các kinh luận, đặc biệt đối với Tông môn, chưa lấy làm tin. Bấy giờ Thiền sư Viên Ngộ đang ở tại Thiên ninh, một ngày nọ, Sư đến bái yết. Thiền sư Viên Ngộ vì chúng vào thát, Sư thấy kính phục phần phát đến phía trước, Thiền sư Viên Ngộ bảo: “Y kinh giải nghĩa, oan cả chư Phật ba đời, lìa kinh một chữ tức đồng ma nói. Hãy nói nhanh, nói nhanh”. Sư phỏng nghĩ đáp, Thiền sư Viên Ngộ ngay thẳng miệng Sư đánh một cái, nhân đó gãy một chiếc răng, và Sư liền đại ngộ, bèn lưu ở Thiên ninh, từ đó thầy trò khế hợp, hỏi đáp không lúc ngưng nghỉ. Về sau Sư khai đường giảng pháp tại Ðại giác, tiếp chuyển dời đến Trung thiên trúc, lại tiếp dời đến ở Linh phong. Có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Chín mươi xuân quang đã qua một nửa, khí trời dương hoa chánh dung hòa, trên cành hải đường chim aonh hót, nói cùng thời lại thấy được gì? Tuy là như vậy, hãy thấu thấu sắc một câu làm sao sống? Nói, vàng khắc ngựa hý đất cỏ đẹp, lầu ngọc người say trời hoa hạnh”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư nêu cử câu thoại không có Phật tánh, và Sư mới bảo: “Mười sáu người đẹp châm thêu chậm, dưới hoa gai tía Hoàng ly ngâm, đáng mến vô hạng thương xuân ý, đều tại dừng kim lúc chẳng lời”. Ðến ngày mồng 08 tháng 04 năm Giáp ngọc (1174) thuộc niên hiệu Thuần Hy (1174-1190) thời Nam Tống, Hiếu Tông Hoàng đế (Triệu Thận 1163-1190) ban sắc chiếu thỉnh mời Sư vào nội điện, mời lên tòa giảng pháp, vua nêu cử nhân duyên chẳng cùng muôn pháp làm bạn, khiến Sư niêm nêu, Sư niêm xong, bèn nói bài tụng rằng: “Cán căn bóp ra dầu, Lời nhàn tiếng lớn ngưng, Hai mươi buộc mười vạn xâu, Cưỡi hạc lên Dương châu”. Ðến trong năm Quý hợi (1203) lên giảng đường, Sư chỉ dạy đại chúng xong rồi bèn thị tịch.