Tiểu Sử
Hành Trạng
2. Thiền sư Cảo ở Pháp vân. Thiền sư Cảo - Phật Chiếu ở Pháp vân tại Ðông kinh. Từ thuở niên thiếu, Sư đã vân du, đến bái yết Thiền sư Ky ở Viên thông. Lần vào thất, Thiền sư Ky nêu cử: “Có vị Tăng hỏi Ðầu Tử rằng: “Lúc người đại tử tức sinh là thế nào?” Ðầu Tử đáp: “Chẳng hứa đi đêm, tới sáng phải đến nơi”. Ý chỉ ấy như thế nào?” Sư đáp: “ n lớn khó đền đáp”. Thiền sư Ky rất vui lòng bèn bảo Sư làm Thủ chúng. Ðến chiều, vì chúng, Sư nắm phất trần. Thiền sư Ky chậm rãi mà nói, đại chúng cười Sư, Sư tỏ vẻ thẹn đỏ mặt. Ngày hôm sau ở trong nhà Tăng rót trà, nhân va chạm bầu trà rơi xuống đất. Thấy bầu trà lăn nhảy, Sư bèn chứng đắc “Ứng cơ Tam-muội”. Sau đó, Sư lại đến nương tựa Thiền sư Chân Tịnh, nhân đọc kệ tụng của Tổ rằng: “Tâm đồng cõi hư không Dạy pháp bằng hư không Lúc chứng đắc hư không Không pháp phải pháp quấy”. Bỗng nhiên Sư đại ngộ, Sư từng nói với mọi người rằng: “Ngày 21 tháng 11 năm Thiệu Thánh thứ ba (1096) thời Bắc Tống, ngộ được tấc vuông thiền”. Ðến lúc ra hoằng hóa, Sư ở Quy tông, rồi tiếp có chiếu chỉ mời đến Tịnh cư. Nhân có vị Tăng hỏi: “Tổ sư Ðạt-ma từ Tây vức lại truyền cái gì?” Sư đáp: “Chu, Tần, Hán, Ngụy”. Lại hỏi: “Ngày xưa có vị Tăng hỏi Vân Môn thế nào là thấu đạt pháp thân? Vân Môn đáp Tàng thân trong Bắc đẩu, ý chỉ ấy như thế nào?” Sư đáp: “Một tấm lòng son”. Lại nói: “Người học tức chẳng vậy”. Sư bảo: “Ông lại làm sao sống?” Lại nói: “Ðêm qua ngẩng đầu nhìn Bắc đẩu, y hy tức tợ chấm bánh đường”. Sư bảo: “Chỉ nhớ nước cỏ, ngoài ra không biết gì”. Có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Ý Tổ sư Ðạt-ma từ Tây vức lại truyền riêng ngoài giáo điển, chẳng phải hàng đại căn đại khí thì chẳng thể chứng nhập”. Người chứng nhập chẳng bị văn tự ngữ ngôn xoay chuyển, sắc phải quấy làm mê, cũng không khác Vân Môn, Lâm Tế, chẳng lạ Triệu Châu, Ðức Sơn. Do đó, xướng đạo phải rõ vô ngữ trong hữu ngữ, hữu ngữ trong vô ngữ. Nếu hướng trong đó dâng cử được thì có thể gọi là trọn ngày mặc áo mà chưa từng treo một sợi chỉ, trọn ngày ăn cơm mà chưa từng cắn một hạt gạo. Ngay như mắng Phật trách Tổ có lỗi quá gì. Tuy là như vậy, nhưng muốn được chẳng chiêu vời nghiệp vô gián chớ phỉ báng chánh pháp luân của Ðức Như Lai”. Xong, Sư hét một tiếng, và xuống khỏi tòa”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư nắm cây gậy, bảo: “Quy Tông hiểu chém rắn, Hòa Sơn biết đánh trống, muôn tượng cùng Sum-la, đều từ trong đó đi”. Sư ném cây gậy xuống, tiếp bảo: “Về nhà uống trà”. Sư dùng sức tham vào rất sâu, nói năng chẳng vào thời cơ. Mỗi lúc chỉ dạy đại chúng, Sư thường nêu cử: “Năm Hy Ninh thứ tám (1075) thời Bắc Tống, Lão Tăng căng trương màn văn tại phủ phụng tường cung thâm, năm đổ ngã xong Hoa Sơn bốn mươi dặm đè lấp nhà người trong bốn mươi thôn. Các ngươi sinh sau chỉ như trái cà trái bầu, bao giờ mới biết được”. Hoặc có người hỏi: “Trên Bảo hoa vương tòa, nhân gì một hướng về thế đế?” Sư đáp: “Người ngu si Phật tánh, đâu có hai thứ ư?”
