Tiểu Sử
Hành Trạng
1. Thiền sư Nhật Ích ở Thượng phương. Thiền sư Nhật Ích ở Thượng phương tại An cát châu. Ngày khai đường giảng pháp, thượng thủ bạch chùy xong, Sư mới bảo: “Trước bạch chùy, quán một lại chẳng thành, sau bạch chùy quán hai lại chẳng phải. Ðến trong đó mặc cho là mắt sắt tròng đồng, cũng phải trăm thứ tạp toái, chẳng có nạp Tăng chẳng lánh nguy mất, thử ra xem?” Khi ấy có hai vị Tăng đồng ra, Sư bảo: “Một mũi tên bắn rơi hai con chim điêu”. Có vị Tăng thưa: “Câu thoại tôi còn chưa hỏi sao bị dính nhằm bộn rộn?” Sư bảo: “Chẳng là Tăng ở Tân-la ư?” Vị Tăng ấy phỏng bàn nghị. Sư bảo: “Ðược tài khua lộ trụ”, và bèn đánh. Bèn hỏi: “Thế nào là việc bên cạnh lúc chưa xuất hiện nơi đời?” Sư đáp: “Ðáy giếng ểnh ương nuốt vầng nguyệt”. Lại hỏi: “Thế nào là việc bên cạnh khi đã xuất hiện nơi đời?” Sư đáp: “Chim Cư sĩ đạp gãy cành lau khô”. Lại hỏi: “Bỏ cả hai đường ấy, thế nào là nơi Hòa thượng vì người?” Sư đáp: “Thập toàn khéo cái dùi kim cang, bày đến đầu đường bán cho ai”. Lại hỏi: “Thế nào là trâu bò nước nhiều tuổi?” Sư đáp: “Răng thưa, mắt mờ”. Lại hỏi: “Nơi chợ ồn náo cùng gặp, việc ấy thế nào?” Sư đáp: “Ði hướng đông mua tiện, đi hướng tây mua quý”. Lại hỏi: “Bỗng như chẳng làm quý chẳng làm tiện, lại làm sao sống?” Sư đáp: “La-bặc ở Trấn châu”. Lại hỏi: “Hết thảy hàm linh đều có đủ Phật tánh. Ðã có Phật tánh, vì gì khua dẫn vào thai lừa bụng ngựa?” Sư đáp: “Biết mà cố phạm”. Lại hỏi: “Chưa xét rõ hướng đến nơi nào để sám hối?’ Sư bèn đánh và bảo: “Tạm làm thuốc chết ngựa”. Lại hỏi: “Lúc thăm nhìn mặt cùng lộ bày thì thế nào?” Sư đáp: “Mắt trái nửa cân mắt phải tám lạng”. Vị Tăng ấy nâng tọa cụ lên và hỏi: “Cái gì đây?” Sư đáp: “Chớ nhọc nắm ra”. Sư mới trông nhìn hai bên mới bảo: “Lão mặt vàng đi khắp bảy bước, lưới cẳng chân chánh khéo một dùi. Hồ mắt biếc cao ngồi chín năm, trên đảnh cửa đáng tiếc một tráp. Lúc bấy giờ nếu có nạp Tăng vì chúng mà dốc hết sức, hạ được tay độc ấy, cũng khỏi bị năm hoa mỉm cười, không cải đổi mặt mày, đứng trong tuyết ngang eo vụt thành dấu vết. Từ đó đem sai lầm đén sai lầm, kén chọn sọt đánh sọt bèn có năm cành phản phát hương thơm, ngàn đèn tiếp tục nối sáng. Ðến trên cây khúc lục xướng hai làm ba, ở đầu cành lan lật chỉ nam làm bắc. Ngay được tiến tới trước lùi lui sau có học trò hỏi pháp hỏi tâm, tựa cửa tựa tường có những gã tài giỏi tìm Phật tìm Tổ. Chỉ cây bách trước sân, bèn kêu làm ý Tổ sư từ Tây vức lại, giữa ngày trông nhìn núi lại lầm nhận chính mình của người học. Rất không biết một việc lớn này vốn lại tự minh linh, suốt cùng ngằn mé trong tương lai chưa từng gián . Chẳng nương gá tu chứng, há lại ở nơi tư duy. Tuy Thu Tử có chỗ chẳng biết, mà cũng chẳng phải chỗ Mãn Từ có thể biện rõ. Há không thấy một tiếng hét của Mã Tổ mà Bách Trượng suốt ba ngày điếc tai, lệnh của Bảo Thọ ban hành ở Trấn châu, cả một thành mù mắt. Ðại cơ đại dụng như sấm vụt chẳng thể dừng, một xướng một nâng tợ dứt bờ chẳng thể giẫm bước. Chánh lúc ấy, chư Phật ba đời cũng chỉ bàng quan, sáu đời Tổ sư chứng minh có phần. Ðại chúng hãy nói ngày nay lại có chứng minh chăng?” Ngưng giây lát, Sư bảo: “Tấu”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Thập Ðắc bổ củi, Hàn Sơn đốt lửa, chỉ có Phong Can ngồi lạnh trong hang. Hãy nói Phong Can có nơi lớn mạnh chăng?” Ngưng giây lát, Sư bảo: “Nhà không kẻ sứ nhỏ, chẳng thành quân tử”.
