Tiểu Sử
Hành Trạng
3. Thiền sư Tư Tuệ ở Tuyết phong. Thiền sư Tư Tuệ - Diệu Trạm ở Tuyết phong ở Phước châu, vốn người dòng họ Du ở Tiền đường. Có vị Tăng hỏi: “Lúc nơi điện xưa không có đèn thì thế nào?” Sư đáp: “Vách tường đông đánh vách tường tây”. Lại hỏi: “Thế nào khua nhằm Lộ trụ?” Sư đáp: “Chưa dám hứa cùng”. Có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Một pháp nếu thông, muôn duyên mới thấu”. Sư nắm cây gậy, tiếp bảo: “Trong ấy mà ngộ được, nâng dây cây gậy đi ngang trên biển. Nếu đến đầu núi Vân cư cùng ta truyền lời Hòa thượng Vân Phong. Ôi!” Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Bủa giềng lưới Ðại giáo vớt bắt cá trời người, hộ Thánh chẳng tợ lão Hồ, kéo đất mang nước, chỉ là thấy thỏ thả chim săn, gặp chương bắn mũi tên”. Và Sư mới lớn tiếng gọi đại chúng: “Trúng!” Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Ngày xưa Dược Sơn sớm chiều chẳng tham trải qua cả tháng. Một ngày nọ đại chúng mới nhóm tập, Dược Sơn bèn trở về phương trượng. Chư Thiền đức! Lúc ấy Phật pháp đã tự mỏng đạt, luận lại còn sánh chút ít, đến nay mỗi ngày gióng trống lên giảng đường, lo lắng xót xa, người hỏi miệng tợ như se tơ đánh sợi, người đáp lưỡi tợ như sấm sét. Tất cả tợ như ngày nay tuệ mạng Linh sơn gần như treo sợi tơ, gia phong Thiếu thất nguy như xâu trứng. Lại an được cái bùi ngùi nạp Tăng có chí dựng Tông thừa, ra lại hét tan đại chúng. Chẳng chỉ bên tai lắng rõ, hẳn khiến chánh pháp cửu trụ, há chẳng lớn thay! Nếu như trên đầu gậy chẳng thành rồng, sơn Tăng thực hành ngược lệnh ấy”. Xong, Sư nắm cây gậy đồng một lúc đuổi tan. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Lông mi giăng ngang bày mười phương, lông mày trên thấu trời xanh dưới suốt suối vàng. Hãy nói lỗ mũi ở nơi nào?” Ngưng giây lát, Sư bảo: “Tâu”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Ðỉnh núi diệu cao, mây biển mênh mông, trước hang Thiếu thất tuyết sương rét lạnh, ngang eo đứng đợi, nhọc tự khổ mình, giày lẽ về tây, xa lại càng xa”. Xong, Sư gõ cây gậy một cái và xuống khỏi tòa. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Ðại đạo chỉ tại trước mắt, cốt lõi trước mắt khó thấy, muốn biết chân thể Ðại đạo, sáng nay mười lăm (15) tháng ba. Chẳng nhọc đứng lâu”. Ngày đổi niên hiệu Kiến Viêm (1127) thời Nam Tống, lên giảng đường, Sư bảo: “Ðức lớn của đất trời gọi là sinh, báu lớn của Thánh nhân gọi là vị. Nay Hoàng đế mới lên ngôi báu, muôn nước đều quay về lòng nhân, cỏ cây đều được đượm nhuần đức ấy, đây còn là việc bên cạnh, Thánh chúa ứng thế. Một câu nơi Vương cung giáng đản trở về trước, người trong thiên hạ phỏng đòi chẳng nhằm”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Tất cả pháp không sai, bánh hồ Vân Môn, trà Triệu Châu, trong lầu Hoàng Hạc thổi sáo ngọc, Giang thành tháng năm (05) hoa mai rơi, hổ thẹn Thái nguyên Thượng tọa Phu. Canh năm nghe trống giác, trời sáng đùa Tỳ-bà”. Xong, Sư hét một tiếng. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Nam tuân cácbạn đạp phá giày cỏ, học hết vô vi ngồi tiêu nhật nguyệt, phàm tình dễ thoát, Thánh giải khó quên, chỉ có mảy may đều thành rò rỉ, trong ấy có thể làm đạo tợ đất chống núi. Ứng vật hiện hình như lừa trông nhìn đáy giếng, giả sử không lường tính đường vết đã thành, nếu luận về tương ứng chuyển đắm giao thiệp. Khuyên cùng các Nhân giả, chớ sai lầm dụng tâm, mỗi tự về nhà, lại tìm cầu việc gì?”.
