Tiểu Sử
Hành Trạng
5. Thiền sư Khánh Nhàn ở Long khánh Thiền sư Khánh Nhàn ở Long khánh - Nhân sơn tại Cát châu, vốn người dòng họ Trác ở Phước châu. Thân mẫu Sư mộng thấy có vị Hồ Tăng trao cho minh châu, bèn nuốt lấy mà mang thai, đến lúc sinh Sư có ánh sáng sắc trắng tỏa chiếu khắp phòng nhà. Từ thủa bé thơ mà Sư đã chẳng gần các thứ rượu thịt. Năm mười một tuổi, Sư bỏ cuộc đời thế tục, năm mười bảy tuổi được độ xuất gia. Năm hai mươi tuổi vân du khắp nơi dự tham. Sau đó, Sư đến bái yết Thiền sư Tuệ Nam (Hoàng Long) ở Hoàng nghiệt. Thiền sư Tuệ Nam hỏi: “Ông từ xứ nào lại?” Sư đáp: “Từ Bạch trượng”. Lại hỏi: “Xa lìa nơi đó từ bao giờ?” Sư đáp: “Ngày mười ba tháng giêng”. Lại bảo: “Dưới cẳng chân khéo nhận đau cho ba mươi gậy”. Sư nói: “Chẳng chỉ ba mươi gậy”. Thiền sư Tuệ Nam bèn hét, bảo: “Có bao nhiêu thời gian hành khất không điểm tin tức?” Sư đáp: “Trăm ngàn chư Phật vẫn là như vậy”. Lại hỏi: “Ông cũng gì lại từng có mảy may đến cảnh giới chư Phật?” Sư đáp: “Chư Phật cuối cùng hẳn đến cảnh giới Khánh Nhàn”. Lại hỏi: “Thế nào là nơi ông sinh duyên?” Sư đáp: “Sáng sớm ăn cháo trắng, đến nay lại cảm thấy đói”. Lại nói: “Tay ta nào tợ tay Phật”. Sư đáp: Dưới trăng đùa đàn cầm. Lại hỏi: “Chân ta sao tợ cẳng lừa?” Sư đáp: “Cò đứng trên tuyết chẳng đồng sắc”. Thiền sư Tuệ Nam ngợi khen dò dẫm trông nhìn mà hỏi: “Ông cắt bỏ râu tóc để sẽ làm việc gì?” Sư đáp: “Chỉ mong cầu không việc gì?” Lại hỏi: “Cùng thì vài tiếng trong sạch hết phải quấy ngoài, một cái người nhàn giữa khoảng trời đất?” Sư đáp: “Là nói gì ư?” Lại bảo: “Nạp tử lanh lợi”. Sư nói: “Cũng chẳng tin được”. Thiền sư Tuệ Nam lại bảo: “Ở đây có Thượng tọa Biện, ông bám lấy tinh thái”. Sư nói: “Kia có nơi rất lớn”. Lại hỏi: “Kia vỗ vào lưng ông một cái lại như thế nào?” Sư nói: “Làm gì?” Lại bảo: “Kia bày hai tay”. Sư nói: “Nơi nào học cái đầu rỗng lại”. Thiền sư Tuệ Nam cười lớn, Sư liền bày hai tay. Thiền sư Tuệ Nam hét một tiếng rồi lại hỏi: “Lung lung tung tung hai người cùng một bát, làm sao sống hiểu?” Sư đáp: “Trăm thứ tạp đoái”. Lại hỏi: “Khắp đại địa là cái núi Tu-di, nhúm lại trong lòng bàn tay ông lại làm sao sống hiểu?” Sư đáp: Hai lớp công án”. Lại bảo: “Trong đó theo ông lời Hồ tiếng Hán, nếu đến Ðồng an làm sao qua được?” Gặp lúc bấy giờ Thiền sư Hồng Anh vốn người xứ Thiệu võ đang ở tại Ðồng an làm thủ tòa, sư muốn ra mắt đó, Sư bèn đáp: “Cừ cũng phải đến trong đất ruộng ấy mới được”. Lại hỏi: “Bỗng bị cừ chỉ lò lửa mà bảo: “Cái ấy là lò lửa sơn đen, cái kia là án hương”. Vậy nơi nào là nói chẳng đến?” Sư đáp: “Khánh Nhàn mà đến trước, cả lại theo nghĩ gì nói năng. Nếu là người khác cười Hòa thượng đi”. Thiền sư Tuệ Nam bèn tát Sư một cái, Sư liền hét. Qua ngày sau, đồng đi xem nhìn tăng đường, Thiền sư Tuệ Nam bảo: “Tăng đường xinh đẹp”. Sư nói: “Rất khéo công phu”. Lại hỏi: “Khéo ở nơi nào?” Sư đáp: “Một xà chống một trụ”. Lại bảo: “Ðó chưa là nơi khéo đẹp”. Sư hỏi: “Hòa thượng lại làm gì sinh?” Thiền sư Tuệ Nam đưa tay chỉ và bảo: “Trụ ấy được cùng gì tròn, bảng kia được cùng gì dẹp”. Sư nói: “Ðại Thiện tri thức của trời người phải là Hòa thượng mới được”. Và liền rảo bước đi, qua ngày sau, Sư đứng hầu Thiền sư Tuệ Nam hỏi: “Ðược ngồi đắp y ngày sau thi thiết thế nào?” Sư đáp: “Gặp vuông tức vuông, gặp tròn tức tròn”. Lại hỏi: “Ông cùng gì nói năng còn nói năng còn dính nơi môi răng?” Sư đáp: “Khánh nhàn tức cùng gì, Hòa thượng làm sao sống?” Lại bảo: “Gồm từ trước lại, cho ông nói”. Sư bèn vỗ tay nói: “Sư bèn vỗ tay nói: “Ba mươi năm dùng đến cùng, ngày nay gặp phải bại”. Thiền sư Thiền sư Tuệ Nam cười lớn bảo: “Môït đồng là tinh linh”. Sư bèn rủ áo mà đi. Từ đó các học giả đua nhau quy hướng. Lô lăng thái thú Trương Cônrằng giám thỉnh mời Sư đến ở Long khánh. Có vị Tăng hỏi: “Bày tòa mời mở, chẳng thể thông qua. Sư đáp: “Ghi nhớ lấy câu thoại đầu”. Lại hỏi: “Xin Sư cao dán mắt”. Sư bảo: “Sai nhầm quá lắm vậy”. Trong thất duỗi hỏi: “Tâm ấn Tổ sư, Triệu làm bằng văn gì? Cội nguồn chư Phật sâu đến ít nhiều?” Lại có lúc Sư bảo: “Trong mười hai thời khắc trên đến dưới đi, mở đón bày bát. Ðây là thân Năm uẩn bại hoại. Vậy cái nào là pháp thân tịnh?” Sư lại bảo: “Chẳng dùng chỉ đông vẽ tây, ngay trên thật địa nói lấy một câu lại?” Sư lại bảo: “Trong mười hai thời khắc, mặc áo ăn cơm, nương nhờ ân sức của người nào?” Sư lại bảo: “Cá lội nước đục, chim bay rụng lông, tòa thủ Lượng một lần vào Tây sơn vì gì mịt mờ không tin tức?” Sư ở tại Long khánh chưa đầu một năm, Chung lăng thái thú Vương Công Thiều thỉnh mời Sư đến ở Long tuyền. Lại chưa qua một năm, vì cớ bệnh, Sư mong cầu đi. Các hàng đạo tục ở Lô lăng dùng thuyền chở đưa Sư về. Sư ở nhà đông tại Long khánh, mọi người chăm sóc hầu hạ rất mực chí thiết. Ðến ngày mồng 07 tháng 03 năm Nguyên Phong thứ tư (1081) thời Bắc Tống, lúc sắp thị tịch, Sư lưu lại bài kệ rằng: “Chất bày nỗi đời Chất ngầm nổi diệt Năm mươi ba (53) năm Sáu bảy tám tháng Năm nhạc Thiên thai Gió tùng tuyết nhẹ Trân trọng biết âm Lò hồng ưu bát”. Xong rồi, Sư ngồi điềm nhiên mà thị tịch. Bảo thợ họa vẽ đến tả vẽ hình tượng, bỗng nhiên Sư ngẩng lên, qua hôm sau mới nhìn xuống lại ngang bằng. Ngày trà tỳ, có mây nổi, gió thổi bay ngoái bẻ gãy cây gỗ. Hỏi khói đến khắp bốn hướng Ðông Tây Nam Bắc rộng cả 40 dặm, phàm giữa khoảng các nơi cây cỏ cát sỏi, đều có được Xá-lợi sắc màu như vàng ròng. Tính số lượm nhặt được có đến vài hộc. Sư hưởng thọ năm mươi lăm tuổi, ba mươi sáu hạ lạp. Mới đầu, Tô Tử Do muốn làm bài ký mà còn nghi ngờ về việc ấy, mới mắc bệnh sốt rét, mộng thấy có người quở trách là: “Sự việc của Thiền sư Khánh Nhàn sao lại nghi ngờ ư? Nghi ngờ tức là bệnh vậy”. Trong cơn mộng, Tử Do có làm cả vài trăm bài. Nơi bài Minh lược ghi là: “Cúi đầu ba cõi xúy Sư Nhàn chẳng chỉ vậy Vì thương đời hẹp yếu Nên hiện bày nhỏ nhiệm Tử Do biết nói gì thay!”
