0-TS Tịnh Độ Duy Chính

Tiểu Sử

Danh Tánh 0-TS Tịnh Độ Duy Chính -
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối Pháp0-TS Tịnh Độ Duy Tố
Đồng MônN/A
#2Nối PhápChưa Rõ
Nối Pháp0-TS Tịnh Độ Duy Tố
Đồng MônN/A

Hành Trạng

1. Thiền sư Duy Chính ở Tịnh độ. Thiền sư Duy Chính ở viện Tịnh độ tại Hàng châu, vốn người dòng họ Hoàng ở Hoa đình tại Tú châu. Từ thuở bé, Sư nương theo Thiền sư Bản Như ở viện Tư Thánh tại Tiền đường xuất gia thọ học, đến lúc sắp kiểm xét nghề ở Hữu ty, Thiền sư Bản Như bảo Sư đối trước tôn tượng Bồ-tát Quán Thế m đề cầu nguyện thầm gia hộ. Sư cảm tạ mà nói là: “Há nhẫn riêng tư đối với mình ư?” có Chu Thiệu An là người trong quận nghe thế mà càng thêm thán phục, muốn mở kho mà giúp Sư. Sư bùi ngùi mà nói là: “Xưa kia độ giúp người là lấy sự cơ căn bạch, yếu chỉ kín mầu, ngày nay trái lại với xưa xa vời. Tôi đọc trong Tam bảo, số đáng có thời ấy rồi, mà gặp điềm lành ân ban được hợp chí nguyện. Riêng mang áo bào lông quạ tạm che, đồng liệt thong thả đó”. Sư nói: “Phật ư? Phật ư? Nghi tường thế nào ư? Tăng ư? Tăng ư? Thạnh phục thế nào ư?” Về sau, Sư có nguyện chuyển vần phụng sự qua thời gian dùng độ giúp tiếp thêm công việc của viện, Sư cũng lại cảm tạ rằng: “Chỉ nghe mang bát khất thực, chưa nghe ngồi yên để hưởng. Chỉ nghe bái yết các Tổ, chưa nghe bỏ học tự đảm đan. Huống gì tôi đây tuổi đang khỏe mạnh khí lực sung túc, chánh tại gắng sức hành lễ, chẳng theo việc riêng của am thất vậy”. Từ đó, Sư mang sách trượng dẫn hướng phương Ðông, đến học Tam quán ở Thiên thai. Lại xoay trở đi đường núi, tiếp buông phóng riêng truyền cho ý chỉ từ Lão Túc Duy Tố. Thiền sư Duy Tố ở viện Tịnh độ tại núi Công thần thuộc Ðổng làm an, Sư phụ giúp cùng đó và về sau kế thừa pháp tịch. Nhưng Sư là bậc cao nhân đơn giản, giới luật nghiêm thân. Các vị tiếng tăm trong làng xóm, các bậc công thần phần nhiều đều suy tôn. Có Diệp Nội Hàn Thần Mục Trấn Kim Lăng nghinh thỉnh Sư giảng nói đạo. Một ngày nọ, Diệp thưa rằng: “Ngày mai tại phủ có yến hội, Sư hẳn là người phụng trì giới luật, nhưng có thể vì tôi lưu lại một ngày thực tình đàm nói bạch chăng?” Sư vâng nhận lời đó. Hôm sau, Diệp sai Sứ thỉnh mời Sư, Sư lưu lại một bài kệ tụng mà trở về, ghi rằng: “Hôm qua từng hứa hẹn ngày nay Ra cửa tựa cành lại nghĩ suy Làm Tăng chỉ hợp ở hang cốc Hội vui Quan sĩ thật chẳng hay”. Các khách cùng dự yến hội thảy đều kính ngưỡng tiêu đích đó. Sư nhận thức tư lự trong sạch chẳng mang thế lụy. Nhã mến vượt qua Hoàng Ðộc, ra vào Quân trí, khăn bát đều máng treo trên sừng, mọi người phố chợ đua tranh trông nhìn mà Sư vẫn tự nhiên. Có Hàng Thú Tương Thị Lang cùng Sư kết bạn phương ngoài. Mỗi lần đến bái yết quận đình xuống Hoàng Ðộc đàm luận cười nói trọn ngày rồi mới đi. Tương có bài thơ rằng: “Thiền khách bình thường vào đô cũ Trên sừng trâu vàng treo bát khăn Có lúc mang tuyết xuyên mây đi Khéo hòa cùng mây họa thành tranh”. Sư cũng từng làm những bài kệ ở trong núi rằng: “Trên cầu núi muôn tầng Dười cầu nước ngàn dặm Chỉ có cò trắng liệng Thấy ta thường lại đây”. Lúc bình sinh, Sư trước thuật có cả ba mươi quyển, đề hiệu là “Cẩm Khê Tập”. Sư lại là người khéo giỏi bút pháp trác tuyệt, có Tần Thiếu Du rất trân quý cất giữ đó. Mùa Ðông Sư chẳng ôm sưởi lò lửa, chỉ lấy Lô hoa làm áo nạp lông thuồng chân trong đó, khách đến ở lại cũng cùng chung vậy. Mùa hạ mùa thu, Sư vui thích thưởng ngoạn vầng trăng, dùng mâm bàn sơn lớn đặt chén nổi trên hồ, tự xoay chuyển chén ấy ngâm cười mãi đến sáng, lấy đó làm chuyện thường. Có Thiền sư Thiều ở Cửu Phong thường là khách đến ở lại viện Sư. Một đêm nọ cùng nằm trò chuyện, Sư mới khơi dậy Thiền sư Thiều rằng: “Sắc trăng như thế, nhọc sống phiền nhiễu, đối đáp đó có được bao người?” Thiền sư Thiều chỉ dạ, dạ mà thôi. Giây lâu, Sư gọi Ðồng tử đem lửa, Thiền sư Thiều mới khát ý làm Dược thạch, chỉ khoảnh khắc là có cốc nước ấm vỏ quật, Thiền sư Thiều nín cười, nói: “Không là Thái ư?” Có người hỏi: “Sư lấy tên là Thiều sư, cớ sao mà chẳng đàm nói về Thiều?” Sư đáp: “Nhọc phí ngôn từ. Tôi biếng lười, sao mượn khúc chiếc. Chỉ đêm ngày phiền nhiễu muôn tượng vì phu diễn vậy. Ngôn ngữ có khoảng thời gian mà pháp đây thì vô tận, chỗ gọi là tạo vật vô tận tạng vậy”. Ðến ngày mồng 08 tháng 04 năm Hoàng Hựu thứ nhất (?) thời Bắc Tống, Sư bảo cùng đại chúng rằng: Phàm động vì đối với tĩnh, chưa đầu mối có chung cùng. Tôi một lần động đã trải qua sáu mươi bốn năm, nay đến lúc tĩnh vậy. Nhưng, động tịnh vốn nào có ư?” Khi ấy Sư điềm nhiên mà tịch.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.