0-TS Tịnh Nhân Ðạo Trăng

Tiểu Sử

Danh Tánh 0-TS Tịnh Nhân Ðạo Trăng -
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối Pháp0-TS Phù Sơn Pháp Viễn
Đồng Môn ♂️ 0-TS Khê Sơn Hiểu Vân, ♂️ 0-TS Vạn Sam Hoạt Tu, ♂️ 0-TS Đông Thiền Nhân Chiếu, ♂️ 0-TS Thái Bình Hiền, ♂️ 0-TS Phù Sơn Hồng Liên, ♂️ 0-TS Tây Thiền Kế Ðồ, ♂️ 0-TS Cam Lộ Khánh Dư, ♂️ 0-TS Cam Lộ Pháp Nhãn, ♂️ 0-TS Quy Tông Hồng Thức, ♂️ 0-TS Hành Nhạc Phụng Năng, ♂️ 0-TS Bạch Mã Cảnh Vân, ♂️ 0-TS Quy Tông Phổ An, ♂️ 0-TS Hoa Nghiêm Phổ Tư, ♂️ 0-TS Hưng Hóa Nhân Nhạc, ♂️ 0-TS Bản Giác Nhã Châu, ♂️ 0-TS Định Lâm Tuệ Sâm, ♂️ 0-TS Ngọc Tuyền Vị Phương, ♂️ 0-TS Thanh Ẩn Duy Thục
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Bạch Lộc Tông Hải, ♂️ 0-TS Bắc Thiền Thiệu Tuyên, ♂️ 0-TS Thiếu Lâm Nguyên Huấn, ♂️ 0-TS Hương Nghiêm Ðộng Phu, ♂️ 0-TS Thê Thắng Kế Siêu, ♂️ 0-TS Trường Khánh Tuệ Xiêm

Hành Trạng

1. Thiền sư Ðạo Trăng ở Tịnh nhân. Thiền sư Ðạo Trăng - Tịnh chiếu ở Tịnh nhân tại Ðông kinh, vốn người dòng họ Ðới ở Cổ điền thuộc Phước châu. Thân phụ Sư mộng thấy người mặc xiêm y đội mão vàng như lửa dữ dẫn theo đến nhà, thân mẫu Sư bèn mang thai. Lại mộng thấy nhạc trời phướng vàng phạm bối dẫn một vị Tăng mắt biếc mày dày đến tức liền sinh Sư. Từ bé thơ, Sư chẳng ăn dùng các thứ tanh nồng. Năm mười bốn tuổi, vào viện Thượng sinh cầu xin xuất gia, Sư hành trì hạnh Ðầu Ðà. Năm mười chín tuổi, sư làm vị đại Tăng, đọc xem các kinh luận Ðại thừa Tiểu thừa, xong Sư đặt để xuống không đọc nữa mà nói: “Phương đây tiến nói như vậy”. Rồi Sư mang một bình bát chạy đến Giang hoài, tham vấn phỏng học rất nhiều vị Thiện tri thức, mà chứng đắc yếu chỉ từ Thiền sư Viễn ở Phù sơn. Tại Giang châu có pháp tịch ở Thừa thiên muốn thỉnh mời Sư ở, song đó chẳng phải điều muốn của Sư, Sư mới vân du đến Ðang Dương ngụ ở tại chùa Nhân Thánh. Một ngày nó đi trên sông, ngoảy nhìn lại thuyền mà Sư im lặng nghĩ tính rằng: “Phải nên tùy chỗ đến tin là duyên của Ta vậy”. Sư bèn nói với chủ thuyền: “Chở tôi ở cuối đuôi thuyền được không?” Chư thuyền cười hỏi: “Sư muốn đi đâu, Tôi sẽ đưa thuyền vào cặp bến?” nhân đó, Sư nói: “Tôi chợt muốn đi đến kinh đô”. Chư thuyền bèn chở Sư xoay chuyển đến hướng Bắc. Sư vào bái yết Thiền sư Liên - Ðại giác ở Tịnh nhân. Thiền sư bảo Sư làm Thủ chúng ở dưới tòa. Ðến lúc Thiền sư Liên trở về đất Ngô, đại chúng thỉnh mời Sư kế thừa pháp tịch đó. Ngày khai đường giảng pháp, vua Anh Tông (Triệu Thự 1064- 1068) sai Trung sứ giáng hương dâng tặng Sư áo phương bào sắc tía và phong tặng sư hiệu là “Giác Chiếu”, khắp chốn kinh Sư đô hội tốt xấu muôn mối. Các hàng quý nhân đạt quan đến đầy cửa, mà Sư một mực trông nhìn bình đẳng đó, muôn miệng một ngôn từ đều lấy làm bản sắc đạo nhận, không ai chẳng thêm kính trọng. Trải qua thời gian, đến mùa xuân năm Nguyên Phong thứ ba (1080) thời Bắc Tống, từ Thánh Quang Hiến qua đời, vua Thần Tông (Triệu Húc 1068-1086) ban sắc chiếu mời sư đến cung Khánh thọ giảng pháp. Có vị Tăng hỏi: “Từ Thánh vân du cảnh tiên, định về xứ nào?” Sư đáp: “Nước chảy nguyên tại biển, trăng rơi chẳng lìa trời”. Vua rất vui lòng, ban chiếu thiết đặt tòa cao lớn cho mọi người đến hỏi đáp, mọi người chung quanh trên dưới đều cho đó là việc chưa từng có. Tiếng hoan hô hưởng ứng vang động cả cung điện, ban tặng mọi thứ rất nồng hậu. Lại nói đến sự chấp chỉnh, Sư vốn là người rất có đức hạnh, nên chọn lấy một mỹ hiệu để tấu trình, vua mới phong tặng Sư hiệu là “Tịnh Chiếu Thiền sư”. Tại Kinh đô tạo dựng các ngôi thiền sát, mở mang chùa Tướng quốc làm thành hai ngô Thiền tự là Tuệ lâm và Trí hải, đặt cử chư Tăng làm chủ coi sóc đó hẳn là do Sư chọn lựa. Các bậc Lão túc đều tùy phong hóa mà theo, từ nước Cao Ly có sai phái ba vị Tăng đến nơi chỗ Sư thọ học, Sư tùy thuận căn cơ khai mở dẫn dắt đều được khế hợp với Tông chỉ. Sư làm người có cung cách tự đắc, lẳng lặng tợ như chẳng thể nói, tánh từ hòa an lạc rất thuần cẩn, phụng dưỡng tự thân rất kiệm ước, mặc một chiếc quần vải bố suốt hai mươi năm chẳng đổi thay, không ham thích tốt đẹp gì, thường tẩy rửa vách tường phía Tây của phương trượng, viết văn và mặc trúc có thể quét chùi vào đó. Sư bảo mọi người rằng: “Tôi muốn khiến những người ngang qua đây trông thấy đó mà tâm tự trong mát, quân cái tán này là tôi nói pháp vậy”. Sư ở góc phía Tây Ðô thành có hơn bốn mươi vị Nạp tử, sống tự nhiên chẳng ra khỏi phòng nhà, suốt ba mươi năm mà chỉ như một ngày. Ðến ngày 17 tháng 08 năm Nguyên Hựu thứ tám (1093) thời Bắc Tống, bỗng nhiên Sư bảo cùng đệ tử là Sa-môn Tịnh Viên rằng: “Ba ngày nữa, Tôi sẽ đi vậy”. Ðến kỳ hạn, tắm rửa thay y phục xong, sư nói bài kệ tụng rồi, ngồi kiết già mà thị tịch, hưởng thọ tám mươi tuổi sáu mươi mốt hạ lạp. Hoàng Lỗ Trực từng đề nơi tôn tượng Sư rằng: “Hổ già không răng, rồng nằm chẳng ngâm Ngàn rừng trăng tối, Lục hợp mây che Núi xa làm mây hồng má hạnh Lấy chồng cùng gió xuân chẳng dùng mai mối Lão bà ba năm, ngày niên thiếu Cũng hiểu Ðông bôi Tây thoa lại”. Có thể nghĩ tưởng thấy được điểm cao cùng của Sư vậy. Mới đầu xuất hiện giữa đời hoằng hóa, có vị Tăng hỏi: “Sư xướng hát khúc nhạc nhà ai, Tông phong ấy ai người nối dõi?” Sư đáp: “Có tiền sai sử tiền, không tiến giữ phận nghèo”. Lại hỏi: “Ai là đích tử của trăng hoa, cháu con của Lâm Tế?” Sư bảo: “Tha cho ngươi ba mươi gậy”. Lại hỏi: “Thế nào là cảnh tịnh nhân?” Sư đáp: “Văn bia điện Pháp quảng, đích thân vua Nhân Tông ghi tả”. Lại hỏi: “Thế nào là người trong cảnh?” Sư đáp: “Sáu đời Tổ sư khắp thiên hạ đều nghe”. Lại hỏi: “ Thế nào là người trong đạo?” Sư đáp: “Ngoài khói lửa của muôn nhà, một chiếc gối giữa khoảng nước mây”. Lại hỏi: “Thế nào là Phật?” Sư đáp: “Buổi sáng bôi thoa hương, buổi chiều kéo lửa”. Lại hỏi: “Thế nào là Quán m diệu trí lực?” Sư đáp: “Hà nam chó sủa, Hà bắc lừa kêu”. Lại hỏi: “Thế nào là đại ý của Tổ sư Ðạt-ma từ Tây vức lại?” Sư đáp: “Gậy chống vác ngang chẳng đến vai”. Vị Tăng ấy nói: “Cảm tạ Sư giải đáp câu thoại!” Sư bảo: “Lầm nhận sao định bàn”. Và Sư mới bảo: “Một hỏi một đáp, không có lúc hết, người xưa gọi là biển vô tận tạng, cũng gọi là cửa phương tiện. Ở trước mặt nạp Tăng mà xa vời vậy. Cớ sao quyền bính tại trong tay, phóng đoạt tự do, ngồi đoán Tỳ-lô, vách đứng cao ngàn nhận. Lầu các Thiện tài, ai chịu nhàn du, hộp ngọc Hoa tạng đâu thể xem lấy. Trượng phu mạnh nhanh vốn hợp như vậy, qua sàn nghĩ lường sẽ thành vầng trăng thứ hai. Trừ ném cơ mất khí đây dừng ở am tranh, xuống đến bằng cao cong thành muôn vật, khắp cùng không ngưng trệ, xúc xứ đều thông, giả sử chẳng hết mảy may tự chuốc lấy lỗi lầm ấy, đàm nói như vậy tức cười giết nạp Tăng. Hãy nói ai hiểu được người cười?” Ngừng giây lát, Sư lại bảo: “Khán lấy”. Rồi Sư bèn xuống khỏi tòa. Lại nữa, Sư chỉ dạy đại chúng nắm cây gậy mà bảo là: “Gây gậy gỗ lang lật khéo hay đàm nói Phật tổ, người điếc đã được nghe, người câm cũng hiểu lời. Chỉ vào đá trắng làm ngọc, gõ vào vàng rõng làm đất. Tiên gì hiểu đi. Nhà khác chưa cùng hứa. Chẳng cùng hứa chớ khinh suất, đường thông phía Nam đánh trống, đường thông phía Bắc múa vũ”. Xong, Sư gõ xuống một cái.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.