Tiểu Sử
Hành Trạng
4. Thiền sư Giác Hải ở Tán nguyên. Thiền sư Giác Hải ở Tán nguyên tại Tương sơn, vốn người xứ Nghĩa ô thuộc Vụ châu, dòng họ Phó; là con cháu của Ðại sĩ Phó. Xưa trước tu tập chủng trí, tùy nguyện xuất hiện nơi đời, song thân được cảm điềm lành, khắp thôn xóm đều xưng gọi khác lạ. Năm ba tuổi Sư xuất gia, năm bảy tuổi, Sư làm Tăng. Năm mười lăm tuổi, Sư vân du xa đến Thạch sương lên nơi Trượng thất. Thiền sư Từ Minh chỉ lần đầu trông thấy, liền bảo: “Tốt, khéo đến chuồng, xưởng!” Sư bèn làm tiếng lừa kêu. Thiền sư Từ Minh bảo: “Thật đúng là pháp khí”. Và bèn bảo làm Thị giả. Trong suốt hai mươi năm, Sư gánh nước bổ củi, chẳng ngại sợ nắng mưa, dốc hết thâm tâm thân gần cầu đạo. Sau ra giữa đời, Sư dừng ở tại Tô đài, Thiên phong, Long hoa, Bạch vân. Phủ soái thỉnh mời Sư đến ở nơi Ðạo tràng của Chí Công. Sư nêu bày giềng mối tông yếu, có biện nhanh nhẹn, hành giải tương ưng, mọi người ở các phương vô cùng suy phục. Thừa tướng Vượng Công An Thạch kính trọng đức hạnh lớn lao của Sư, đặc biệt tấu trình phong tặng Sư hiệu. Và ông lại kiên quyết từ chối đảnh tịch, lập am trong núi Ðịnh thủy, cùng Sư thong dong dưới rừng, đàm nói trọn ngày. Ông tặng sư bài tụng rằng: “Chẳng cùng vật trái đạo thật lớn Thường tùy duyên khởi từ Thiền sâu Thiện căn đã sạch ai phá được Vết chân như không ta được tìm”. Ðó cũng là một việc thấu suốt sự đời hiếm có vậy. Có vị Tăng hỏi: “Thế nào là gia phong của Hòa thượng?” Sư đáp: “Vách tường Ðông đánh vách tường Tây”. Lại hỏi: “Có khách đến làm sao mà tiếp đãi?” Sư đáp: “Củi trên núi, nước trong giếng”. Lại hỏi: “Thế nào là nơi chư Phật xuất thân?” Sư đáp: “Thai lừa bụng ngựa”. Lại hỏi: “Lỗ Tổ đối mặt vào vách tường, ý chỉ ấy như thế nào?” Sư đáp: “Việc trú trì thật bề bộn”. Lại hỏi: “Thế nào là Ðại Thiện tri thức?” Sư đáp: “Giết trâu mổ dê”. Lại hỏi: “Vì sao như vậy?” Sư đáp: “Nghiệp tại trong đó”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Cái này nếu là như hổ mang sừng, cái này nếu chẳng như vậy thì gọi là gì?” Ngừng gây lát, Sư lại bảo: “Nuôi lừa nuôi ngựa. Trân trọng”. Ðến năm Nguyên Hựu thứ nhất (1086) thời Bắc Tống, Sư thị tịch. Thừa tướng Vương Công thương khóc đến nơi tháp, có làm bài tụng tán thán Sư chân rằng: “Hiền thiện thay một người Tinh tấn mà lặng lặng Biết lời mà hay im Ngợi khen chẳng làm mừng Hủy nhục chẳng vì buồn Chẳng căng và chẳng khắc Mọi người tự xưng đức Có Tăng và có tục Ðến từ khắp Nam Bắc Chẳng thuận cũng chẳng nghị Chẳng chống và chẳng ép Chẳng Quán và chẳng Hoa Chỉ ăn mà đã thật Ai người nối dõi đó Ta có khuôn phép đây”.
