TS Chi Độn

Tiểu Sử

Danh Tánh TS Chi Độn -
Sanh#1Năm Sanh314
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối PhápTS Không Rõ Dòng Truyền Thừa - Sơ Thời Thiền Tông Trung Hoa
Đồng Môn ♂️ TS Tuệ Tịnh, ♂️ TS Tuệ Trách, ♂️ TS Bà Phả, ♂️ 0-TS Ngũ Đài Đạo Tối, ♂️ TS Đạt Ma Cấp Đa, ♂️ TS Na Liên Đề Lê Da Xá, ♂️ TS Xà Na Quật Na, ♂️ TS Pháp Thái, ♂️ TS Bồ Đề Lưu Chi, ♂️ TS Câu Na La Đà, ♂️ TS Đàm Diệu, ♂️ TS Tuệ Trọng, ♂️ TS Pháp Nguyện, ♂️ TS Đạo Nho, ♂️ TS Đàm Quang, ♂️ TS Tuệ Phân, ♂️ TS Đàm Tôn, ♂️ TS Đàm Dĩnh, ♂️ TS Tuệ Cừ, ♂️ TS Đạo Chiếu, ♂️ TS Đàm Lan, ♂️ TS Đàm Bằng, ♂️ TS Đàm Trí, ♂️ TS Tăng Biện, ♂️ TS Đàm Thiên, ♂️ TS Trí Tôn, ♂️ TS Đạo Tuệ, ♂️ TS Tăng Hiểu, ♂️ TS Chi Đàm Thược, ♂️ TS Bạch Pháp Kiều, ♂️ TS Pháp Duyệt, ♂️ TS Tăng Hộ, ♂️ TS Huyền Sướng, ♂️ TS Pháp Hiến, ♂️ TS Tuệ Kính, ♂️ TS Pháp Ý, ♂️ TS Thích Tăng Lượng, ♂️ TS Tăng Hồng, ♂️ TS Thích Tăng Tuệ, ♂️ TS Tuệ Thọ, ♂️ TS Tuệ Lực, ♂️ TS Tuệ Nguyện, ♂️ TS Tuệ Đạt, ♂️ TS Đạo Lâm, ♂️ TS Tuệ Di, ♂️ TS Tăng Hầu, ♂️ TS Pháp Tuệ, ♂️ TS Siêu Biện, ♂️ TS Đạo Sùng, ♂️ TS Tuệ Dự, ♂️ TS Hoằng Minh, ♂️ TS Tuệ Tấn, ♂️ TS Tăng Phú, ♂️ TS Pháp Cung, ♂️ TS Tuệ Quả, ♂️ TS Phổ Minh, ♂️ TS Tuệ Khánh, ♂️ 0-TS Đạo Ý, ♂️ TS Pháp Tông, ♂️ TS Tăng Sinh, ♂️ TS Trúc Pháp Thuần, ♂️ TS Pháp Tướng, ♂️ TS Đàm Thúy, ♂️ TS Đàm Hoằng, ♂️ TS Pháp Quang, ♂️ TS Tăng Khánh, ♂️ TS Tăng Khánh, ♂️ TS Tuệ Ích, ♂️ TS Tăng Du, ♂️ 0-TS Tăng Yếu, ♂️ TS Pháp Vũ, ♂️ TS Pháp Tấn, ♂️ TS Đàm Xứng, ♂️ TS Tăng Quần, ♂️ TS Trí Xứng, ♂️ TS Pháp Lâm, ♂️ TS Pháp Dĩnh, ♂️ TS Chí Đạo, ♂️ TS Đạo Doanh, ♂️ TS Đạo Phòng, ♂️ TS Tăng Nghiêm, ♂️ TS Tuệ Do, ♂️ TS Tuệ Minh, ♂️ TS Đàm Siêu, ♂️ TS Tăng Thẩm, ♂️ TS Pháp Ngộ, ♂️ TS Phổ Hằng, ♂️ TS Đạo Pháp, ♂️ TS Tuệ Lãm, ♂️ TS Lương Châu Pháp Thánh, ♂️ TS Tăng Tùng, ♂️ TS Tịnh Độ, ♂️ 0-TS Lương Châu Tuệ Thiệu, ♂️ TS Tăng Chu, ♂️ TS Pháp Tự, ♂️ TS Chi Đàm Lan, ♂️ TS Hiền Hộ, ♂️ TS Tuệ Ngôi, ♂️ TS Trúc Đàm Do, ♂️ TS Bạch Tăng Quang, ♂️ TS Trúc Tăng Hiển, ♂️ TS Bảo Chí, ♂️ TS Thích Tuệ Thông, ♂️ TS Tăng Tuệ, ♂️ TS Pháp Quỹ, ♂️ TS Tuệ An, ♂️ 0-TS Pháp Tiến, ♂️ TS Thích Đàm Thỉ, ♂️ TS Bôi Độ, ♂️ TS Sử Tông, ♂️ TS Thích Đàm Hoắc, ♂️ TS Thiệp Công, ♂️ TS An Tuệ Tắc, ♂️ TS Trúc Pháp Tuệ, ♂️ TS A La Kiệt, ♂️ TS Kiền Đà Lặc, ♂️ TS Kỳ Vực, ♂️ TS Đơn Đạo Khai, ♂️ TS Pháp Thông, ♂️ 0-TS Diên Hiền Trí Độ, ♂️ TS Tăng Thạnh, ♂️ TS Trì Tú, ♂️ TS Pháp Độ, ♂️ 0-TS Lô Sơn Tuệ Long, ♂️ 0-TS Bạch Mã Tuệ Quang, ♂️ 0-TS Tăng Viên, ♂️ TS Tuệ Long, ♂️ 0-TS Chí Khâm, ♂️ 0-TS Hoằng Xưng, ♂️ TS Trí Lâm, ♂️ TS Hoằng Sung, ♂️ TS Tuệ Thông, ♂️ TS Pháp Trân, ♂️ TS Siêu Tấn, ♂️ TS Tăng Cẩn, ♂️ TS Tăng Cảnh, ♂️ TS Phạm Mẫn, ♂️ TS Đạo Lượng, ♂️ TS Pháp Mẫn, ♂️ TS Đàm Bân, ♂️ ĐS Thích Tuệ Tĩnh, ♂️ TS Đàm Đế, ♂️ TS Tuệ Tĩnh, ♂️ TS Đạo Uyên, ♂️ TS Tuệ Nghĩa, ♂️ TS Tăng Hàm, ♂️ 0-TS Hoằng Giác, ♂️ TS Trúc Pháp Khoáng, ♂️ TS Thích Tăng Phu, ♂️ TS Trúc Tăng Phụ, ♂️ TS Trúc Tăng Độ, ♂️ TS Thích Tăng Quang, ♂️ TS Trúc Pháp Nghĩa, ♂️ TS Trúc Pháp Sùng, ♂️ TS Vu Pháp Lang, ♂️ TS Pháp Nhã, ♂️ TS Trúc Tiềm, ♂️ TS Khang Pháp Lãng, ♂️ TS Chi Hiếu Long, ♂️ TS Khang Tăng Uyên, ♂️ TS Chu Sĩ Hành, ♂️ TS Cầu Na Bạt Đà La, ♂️ TS Ðàm Ma Mật Đa, ♂️ TS Thích Tuệ Kiền, ♂️ TS Cương Lương Da Xá, ♂️ TS Tăng Già Bạt Ma, ♂️ TS Cầu Na Bạt Ma, ♂️ TS Thích Trí Nghiêm, ♂️ TS Phù Đà Bạt Ma, ♂️ TS Phật Đà Thập, ♂️ TS Thích Ðàm Vô Kiệt, ♂️ TS Thích Pháp Hiển, ♂️ TS Đàm Vô Sấm, ♂️ TS Cầu Na Tỳ Địa, ♂️ TS Phật Đà Da Xá, ♂️ TS Tỳ Ma La Xoa, ♂️ TS Ðàm Ma Lưu Chi, ♂️ TS Phất Nhã Ða La, ♂️ TS Thích Trí Mãnh, ♂️ TS Ðàm Ma Da Xá, ♂️ TS Trúc Phật Niệm, ♂️ TS Đàm Ma Nan Đề, ♂️ TS Tăng Già Bạt Trừng, ♂️ TS Bạch Viễn, ♂️ TS Duy Kì Nan, ♂️ TS Trúc Pháp Hộ, ♂️ TS Chi Lâu Ca Sấm, ♂️ TS Trúc Pháp Lan, ♂️ TS Nhiếp Ma Đằng, ♂️ 0-TS Cưu Ma La Đa, ♂️ TS Bạch Thi Lợi Mật Đa La, ♂️ TS Phật Đà Bạt Đà La, ♂️ 0-TS Ma Lê Bạt Ma - Khai Tổ Thành Thật Tông Ấn Độ, ♂️ TS Tăng Già Đề Bà, ♂️ TS An Thế Cao, ♂️ TS Thanh Châu Đạo Minh, ♂️ TS Phật Đồ Trừng, ♂️ Phó Đại Sĩ, ♂️ TS Thiệu Thác, ♂️ TS Pháp Thân, ♂️ TS Tăng Thiều, ♂️ TS Pháp Hộ
Tịch#1Viên Tịch366

Hành Trạng

支遁,Trí Đôn (314-366). Vị tăng học giả đời Đông Tấn. Là một trong những thiền sư chính của Phật giáo Trung Quốc vào thế kỷ thứ tư.

Sư vốn tên là Chi Độn, họ Quan, người huyện Trần Lưu (nay là huyện Khai Phong, tỉnh Hà Nam), có thuyết bảo là người Lâm lư tỉnh Hà đông (huyện Chương đức tỉnh Hà nam). Gia đình đời đời thờ Phật, sớm tỉnh ngộ lẽ vô thường, ở ẩn trong núi Dư hàng thuộc Cối kê, chuyên nghiên đọc kinh Đạo hành bát nhã và các kinh điển thuộc hệ Bát nhã. Hai mươi lăm tuổi sư xuất gia, Căn cứ theo chữ Chi đặt trước đạo hiệu, người ta cho rằng Sư thọ giới với một vị Tăng Tây Vực vì thời ấy, Tăng sĩ hay lấy họ của thầy làm họ mình, nên Sư đổi họ thành Chi, Tự Đạo lâm, đời gọi là Chi đạo nhân, Chi đạo Lâm. Sư đặc biệt hứng thú với giáo nghĩa Bát Nhã, có những kiến giải đặc sắc. Sư sáng lập ra phái Bát Nhã của Phật Giáo Nguyên Thủy Trung Quốc. Sau đến Kinh sư (thủ đô) Kiến Khang (Nam Kinh) giảng đạo, được các danh sĩ rất thán phục. 

Chi Độn là người đầu tiên đã đưa ra lý giải mới về một trong những khái niệm trung tâm triết học của Trung Quốc là “Lý.” Theo truyền thống, lý chỉ trật tự vũ trụ, nhưng Chi Độn lý giải ngược lại, như là chân lý cao nhất, hay nguyên lý cuối cùng, hay chân tính. Định nghĩa nầy về sau được các trường phái Phật giáo thừa nhận. Chi Độn còn rất nổi tiếng là đệ tử am hiểu sâu sắc về Trang Tử và Đạo giáo. Sư từng chú giải thiên Tiêu Dao của sách Trang Tử, đề xướng tư tướng “Sắc vốn là Không”.

Đời bấy giờ đang chuộng Lão trang, sư thường cùng với các nhân vật lỗi lạc đương thời, như Vương Mông, Tôn Xước, Hứa Tuân, Ôn Hạo, Tạ An và Vương Hi v.v...… bàn về Trang Tử, ngôn từ lưu loát, thao thao bất tuyệt, khiến đời kinh ngạc và rất tán thưởng. Sư hình dáng khác lạ, ưa rong chơi núi rừng, viết chữ thảo rất đẹp, văn bút quán thế. Sau sư lập chùa Chi Sơn tại đất Ngô, do đó còn có hiệu là Chi hình. Chưa bao lâu sư nhận lời của Vương Hi đến huyện Ngô Hưng, lúc đầu ở chùa Linh Gia, sau lại lập Tinh xá ở Diệm Sơn, chúng tăng có hơn trăm người. Rồi lại dời đến núi Thạch Thành, sáng lập chùa Thê Quang, ăn cơm rau uống nước suối, thả hồn ngao du nơi rừng Thiền, chú giải Kinh An Ban và Tứ thiền, noi theo ý chỉ Mã minh, Long thụ. Cuối đời lại xuống núi, tuyên giảng Kinh Duy Ma. Niên hiệu Long hòa năm đầu (362), vua Ai Đế triệu thỉnh sư vào ở chùa Đông An tại Kinh sư, thuyết giảng kinh Đạo Hành Bát Nhã, ba năm sau dâng thư xin từ. Tháng 4 năm Thái Hòa năm đầu sư thị tịch tại núi Dư diêu lúc năm mươi ba tuổi.

Sư có các tác phẩm: Tức Sắc Du Huyền Luận, Thánh Bất Biện Tri Luận, Đạo Hành Chỉ Qui, Học Đạo Giới v.v...… Sư viết Bát Nhã Học Tức Sắc Nghĩa, chủ trương tư tưởng Tức Sắc Bản Không, là một trong sáu nhà bảy tông thuộc Bát nhã học. [X. Quảng Hoằng Minh Tập Q.30 - Lương Cao Tăng Truyện Q.4 - Thích Thị Kê Cổ Lược Q.2 - Xuất Tam Tạng Kí Tập Q.12 Pháp Luận Mục Lục - Phật Tổ Thống Kỉ Q.36]

This entry was posted in . Bookmark the permalink.