Tổ Thứ 51 – TS Mật Am Hàn Kiệt

Tiểu Sử

Danh Tánh Tổ Thứ 51 - TS Mật Am Hàn Kiệt - Ðời Thứ 14 Tông Lâm Tế -
Sanh#1Năm Sanh1118
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối PhápTổ Thứ 50 - TS Thiên Đồng Đàm Hoa - Ðời Thứ 13 Tông Lâm Tế
Đồng Môn ♂️ 0-Nghiêm Triều Giáo Thọ Khương, ♂️ 0-TS Trí Giả Mãn, ♂️ 0-TS Hòa Sơn Tâm Giám, ♂️ 0-TS Tường Phù Thiện Ðăng, ♂️ 0-TS Phụng Sơn Thuyên, ♂️ 0-Cư Sĩ Thị Lang Lý Hạo, ♂️ 0-Thư Ký Nam
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0- Cư Sĩ Thị Lang Trương Tư, ♂️ 0-TS Linh Ẩn Liễu Ngộ, ♂️ 0-TS Tưởng Sơn Khánh Như, ♂️ 0-TS Ẩn Tĩnh Trí Nhu, ♂️ 0-TS Tịnh Từ Quang, ♂️ 0-TS Thiên Đồng Tự Kính, ♂️ 0-TS Tiến Phúc Đạo Sinh, ♂️ Tổ Thứ 52 - TS Phá Am Tổ Tiên - Ðời Thứ 15 Tông Lâm Tế, ♂️ 0-TS Linh Ẩn Sùng Nhạc
Tịch#1Viên Tịch1186

Hành Trạng

1. Thiền sư Hàn Kiệt ở Thiên đồng. Thiền sư Hàn Kiệt - Mật Am ở Thiên đồng tại phủ Khánh nguyên vốn người dòng họ Trịnh ở Phước châu. Thân mẫu Sư mộng thấy vị Lão Tăng ở Lô sơn vào nhà, bèn sinh Sư. Từ thủa nhỏ, Sư thông minh dĩnh ngộ, xuất gia làm Tăng, chẳng ngại sợ du hành, dự tham khắp các Thiện tri thức. Về sau, Sư đến bái yết Thiền sư Hoa - Ứng Am đang ở tại Minh quả thuộc Cù châu, nhưng vì cứng ngạnh khó vào thường gặp phải mắng trách. Một ngày nọ, Thiền sư Hoa hỏi: “Thế nào là chánh pháp nhãn”. Sư vội đáp: “Phá bồn cát”. Thiền sư Hoa gật đầu ấn khả đó. Sau đó không lâu, Sư giã từ về thăm thân thuộc. Thiền sư Hoa dùng bài tụng tiễn đưa Sư rằng: “Thấu triệt câu gieo có. Ðang dương rỗng Ðảnh môn, Cùng theo nay bốn năm, Nêu hỏi suốt không vết, Tuy chưa trao đảy bát, Khí vũ nuốt càn khôn, Tức nắm chánh pháp nhãn, Gọi làm phá bồn cát, Ðây sắp về thăm quê, Rất kỵ tiện gót đi, Tôi có câu cuối cùng, Ðợi về muốn ông theo”. Sau ra hoằng hóa, Sư đến ở Ô cự tại Cù châu, tiếp chuyển dời đến ở các nơi Tường phù, Tương sơn, Hoa tạng. Sau đó không lâu lại có sắc chiếu thỉnh mời Sư đến ở Kính sơn, Linh ẩn, sau cùng Sư đến ở Thái bạch. Có vị Tăng hỏi: “Lúc hư không tiêu hết thì thế nào?” Sư đáp: “Tôi chẳng trùng khoa”. Có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Ngưu đầu nói ngang nói dọc, chẳng biết có chốt cửa hướng thượng, có một số thêm thùng, đông tây chẳng rành nam bắc chẳng phân” Xong, Sư bèn hỏi: “Thế nào là chốt cửa hướng thượng? Nào khác mở mắt tiểu trên sàng. Hoa tạng đây có một chuyển ngữ, chẳng tại hướng thượng hướng hạ. Ðại bi ngàn tay mò đói chẳng nhằm, mưa lạnh không nơi hang sưởi ấm. Ngày nay thỉnh mời khắp tất cả, bố thí cùng đại chúng”. Ngưng giây lát, Sư bảo: “Ðại sư Ðạt-ma không đáng môi răng”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Ðức Thế Tôn nói chẳng nói, kéo cong làm thẳng. Ca-diếp nghe chẳng nghe. Ngước nhìn giữa không trung khải cáo, Mã Tổ tức tâm tức Phật, treo đầu dê bán thịt chó, Triệu Châu khám am chủ, quý mua tiện bán phân văn chắng thẳng, chỉ như Văn Thù là thầy của bảy Ðức Phật, nhân gì xuất định con gái không được? Sông trời trăng sáng cá phân con, lá hộc gió nhẹ nai ăn nấm”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư gõ cây gậy một cái, bảo: “Lúc mê chỉ mê cái ấy”. Lại gõ cây gậy một cái tiếp bảo: “Lúc ngộ chỉ ngộ cái ấy, mê ngộ cả hai đều quên mất, quét phấn đầu đống, nặng thêm sứt mẻ. Chớ có hướng về phía đông tuôn vọt phía tây ẩn chìm nơi toàn cơ riêng thoát nói được một câu chăng? Nếu nói không được thì Hoa Tạng tự nói đi”. Sư ném cây gậy rồi tiếp bảo: “Ba mươi năm sau”. Lại Có lúc lên giảng đường, nêu cử Hòa thượng Kim Phong chỉ dạy đại chúng: “Hai mươi năm trước lão Tăng có tâm từ bi, hai mươi năm sau, lão Tăng không có tâm từ bi?” Khi ấy có vị Tăng hỏi: “Thế nào là hai mươi năm trước Hòa thượng có tâm từ bi?” Hòa thượng đáp: “Hỏi phàm đáp phàm hỏi Thánh đáp Thánh”. Lại hỏi: “Thế nào là hai mươi năm sau Hòa thượng không có tâm từ bi?” Hòa thượng đáp: “Hỏi phàm không đáp phàm, hỏi Thánh không đáp Thánh”. Xong, Sư bảo: “Nếu lúc ấy Ô cự đây thấy được thì chỉ cười lạnh hai tiếng, Lão ấy bỗng nếu liếc đất tự nhiên rơi lạc vào hang huyệt Thánh phàm”. Lại có lúc lên giảng đường, nêu cử câu thoại Bà Tử thiêu đốt am, xong, Sư bảo: “Cái công án ấy trong tùng lâm ít có người nêu niêm, thượng tọa kiệt phá rách da mặt, chẳng khỏi nhận lên một bại hoại, cũng cần các phương kiểm điểm”. Sư mới gọi đại chúng và bảo: “Ðộng phòng Bà Tử ấy sâu ẩn, nước rỉ chẳng lọt, riêng hướng lên cây khô hái hoa, trong hang lạnh phát cháy, riêng thân vị Tăng ấy nhanh chóng mất vào sóng cả, Ðẳng nhàn ngồi dứt vọt thiên trào, đến tận cùng, thân không nước giỏ giọt, kỹ càng kiểm điểm đem lại thì phá gông đánh phá chẳng không. Hai người nếu chưa từng mộng thấy Phật pháp. Ô cự cho gì đề xướng gìn giữ, rốt cùng kết quy về nơi nào?” Ngưng giây lát Sư bảo: “Một nắm tơ hiểu gom không được, cuộn khói lắp ở lan can ngọc”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Ðộng dây đàn khác khúc nhạc, lá rơi biết trời thu, cử một rõ ba, máy mắt cân lạng, như vua cầm kiếm, sống chết đến thời, còn là không gió, sóng vòng vòng, một đường hướng thượng, ngàn Thánh nắm tay cùng đi, hợp vào địa ngục Nê-lê. Chánh ngay cho lúc nào hợp làm gì sống? Giang nam lưỡng chiếc, xuân lạnh thu nóng”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Khắp càn khôn đại địa gọi làm một câu mang gông đeo khóa, chẳng gọi làm một câu nghiệp thức mênh mang, hai lần đều thấu thoát, sạch làu làu, hết bó buộc, không thể nắm bắt. Một tông Ðạt-ma quét đất mà hết. Do đó Ðại Sư Vân Môn nói, khắp càn khôn đại địa, không một mảy may quá loạn, còn là chuyển cú. Chẳng thấy một pháp, mới là nửa đề, lại phải biết có thời tiết toàn đề, Vân môn lớn nhỏ kiếm đi lâu vậy mới khắc mạn thuyền” về sau Sư thị tịch, an táng dựng tháp tại Trung phong của chùa.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.