Tiểu Sử
| Danh Tánh | 0-TS Hoặc Am Sư Thể -
|
||
| Sanh | #1 | Năm Sanh | 1108 |
| Sư Thừa | #1 | Nối Pháp | Chưa Rõ |
| Nối Pháp | 0-TS Hộ Quốc Cảnh Nguyên | ||
| Đồng Môn | ♂️ 0-TS Thượng Trúc Viên Trí, ♂️ 0-Cư Sĩ Tham Chánh Tiền Ðoan Lễ, ♂️ 0-TS Quốc Thanh Hạnh Cơ, ♂️ 0-TS Hoa Tạng Trí Thâm | ||
| Phối Ngẫu | #1 | Danh Tánh | Chưa Rõ |
| Pháp Tử | ♂️ 0-TS Tuyết Phong Vân, ♂️ 0-TS Vạn Thọ Liễu Tu, ♂️ 0-TS Thiên Đồng Trí Dĩnh | ||
| Tịch | #1 | Viên Tịch | 1179 |
Hành Trạng
2. Thiền sư Sư Thể ở Tiêu sơn. Thiền sư Sư Thể ở Tiêu sơn - Hoặc am tại phủ Trấn giang. Vốn người dòng họ La ở Ðài châu. Có lúc lên giảng đường, nêu cử Công án bốn câu kệ của Lâm Tế chỉ dạy đại chúng. Xong Sư mới gọi đại chúng, bảo: “Cái Công án ấy các bậc Lão túc trong thiên hạ niêm liền lắm nhiều, em sợ đều chưa hết sự hay khéo, Tiêu Sơn chẳng khỏi Tứ lăng đặt đất, nên cùng các người chú giải rõ ràng một lần. Thế nào là Sư tử ngồi nơi đất? Ôi! Thế nào là kiếm báu Kim cang vương? Ôi! Thế nào là mò tìm bóng cỏ đầu sào? Ôi! Thế nào là một tiếng hét không làm tác động của tiếng hét? Ôi! Nếu cũng chưa hiểu cây gậy cùng Tiêu Sơn nhả bày xem?” Sư gõ xuống một cái, bảo: “Trong tiếng cười có dao”. Lại gõ xuống một cái, bảo: “Rắn độc không mắt”. Lại gõ xuống một cái, bảo: “Tài giỏi nhẫn nhịn không cấm”. Lại gõ xuống một cái, bảo: “Ra cửa là đường. Lại có một cơ nêu cử câu thoại, Trưởng lão cũng giải hiểu không được”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Thường năm tắm Phật tại ngày nay, mắt trông ca Duy đường chẳng xa, nếu là đương thời từng thị hiện, nên chặng nước bẩn chợt rưới đầu?” Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Tháng nóng phải lay quạt, lạnh phải mặc thêm áo, nếu nói ngày qua không, rất tợ không biết thời”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Ðạo sinh một, trâu sắt không sừng ngủ thiếu thất, một sinh hai, cha ông mở ruộng nói đại nghĩa. Hai sinh ba, sàn nhà yến tía hót nỉ non, ba sinh muôn vật, kế sống con trai lìa hang tổ, nhiều nơi thêm, ít nói bớt, trùng lớn sợ ăn mật người sống. Có như không, thật như hư, tranh bít châu ngọc minh nguyệt của ly long. Phải thì phải, chỉ như một câu Tiêu Sơn ngồi ngay đầu lưỡi các phương làm sao sống? Nói. Bụng không bệnh hẹp hòi chẳng sợ lạnh dầu dưa muối”. Sư gõ vào thiền sàn một cái và xuống khỏi tòa. Có vị Tăng hỏi: “Thế nào là tức tâm tức Phật?” Sư đáp: “Ðảnh châu ra thần nanh tranh”. Lại hỏi: “Thế nào là phi Phật phi tâm?” Sư đáp: “Mân Thục đồng phong hóa”. Lại hỏi: “Thế nào là chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật?” Sư đáp: “Tận cùng hầm hố khó đầy”. Lại hỏi: “Lúc sinh diệt chẳng dừng thì như thế nào?” Sư đáp: “Cảm tạ sự cúng dường”. Lại hỏi: “Ta có đàn không dây, lâu ở trong đồng trống, chẳng phải không biết đàn, vì chưa gặp tri âm, đã gặp được người tri âm, chưa xét biết tác phẩm đùa múa như thế nào?” Sư đáp: “Chuông làm tiếng chuông ngân, trống làm tiếng trống dội”. Lại hỏi: “Vân Môn tha cho Ðộng Sơn ba gậy nhanh chóng, ý chỉ ấy như thế nào?” Sư đáp: “Hòa thân đổ ngã, hòa thân chuyển đỡ”. Lại hỏi: “Ðãy cơm Giang tây Hồ nam tiện nghĩ gì đi lại làm sao sống?” Sư đáp: “Lệ đổ đau lòng”. Lại nói: “Vàng thật phải là luyện lò hồng, ngọc bạch lại kia khéo tay mài”. Sư bảo: “Thêm một chấm cũng khó làm”. Lúc ở trong thất, Sư từng đưa cây chổi quét mà hỏi các Học giả rằng: “Cán chổi Y Hy quét, phảng phất rắn khoang đỏ”. Ðại chúng đều mở lời không khế hợp. Có vị Tăng hỏi: “Sư dùng kệ tụng mà chỉ dạy rằng: “Cán chổi Y Hy quét, phảng phất rắn khoang đó, dưới gậy vô sinh nhẫn, gần cơ chẳng biết cha”. Ðến ngày rằm tháng tám năm Kỷ hợi (1179) thuộc niên hiệu Thuần Hy (1174-1190) thời Nam Tống, Sư hiện tướng cảm mắc chút bệnh, nhấm bút viết thư giả biệt Quận Thú Tăng Công. Ðến nửa đêm, Sư viết kệ tụng giả biệt đại chúng là: “Cây sắt nở hoa, gà trống sinh trứng, bảy mươi hai năm, lay xách dây đứt”. Xong, Sư ném bút mà tịch.
