Tiểu Sử
| Danh Tánh | 0-TS Hà Sơn Thủ Tuân -
|
||
| Sanh | #1 | Năm Sanh | 1079 |
| Sư Thừa | #1 | Nối Pháp | Chưa Rõ |
| Nối Pháp | 0-TS Thái Bình Huệ Cần Phật Giám | ||
| Đồng Môn | ♂️ 0-Cư Sĩ Thư Ký Phát, ♂️ 0-TS Tạng Chủ Dung, ♂️ 0-TS Thiên Sơn Trí Tung, ♂️ 0-TS Phước Thánh Thâm, ♂️ 0-TS Khải Hà Sở Khiêm, ♂️ 0-TS Cốc Sơn Hải, ♂️ 0-TS Tịnh Chúng Liễu Xán, ♂️ 0-TS Linh Nham Họa, ♂️ 0-TS Đại Trung Tường Phù Hải, ♂️ 0-TS Bảo Tạng Bản, ♂️ 0-TS Long Nha Trí Tài, ♂️ 0-TS Nam Hoa Tri Bính, ♂️ 0-TS Lặc Đàm Trạch Minh, ♂️ 0-TS Bồng Lai Khanh, ♂️ 0-TS Văn Thù Tâm Đạo | ||
| Phối Ngẫu | #1 | Danh Tánh | Chưa Rõ |
| Pháp Tử | ♂️ 0-Cư Sĩ Song Hòe Trịnh Tục, ♂️ 0-TS Thiên Đán Đạo Như, ♂️ 0-Cư Sĩ Đãi Chế Phan Lương Quý, ♂️ 0-TS Trù Nham Liễu Vân | ||
| Tịch | #1 | Viên Tịch | 1134 |
Hành Trạng
5. Thiền sư Thủ Tuân ở Hà sơn. Thiền sư Thủ Tuân - Phật Ðăng ở Hà sơn, tại An cát châu, vốn người dòng họ Thí ở quận chi. Sư đến dự tham nơi Thiền sư Anh ở Quảng giám mà không khế ngộ, bèn đến Thái bình theo chúng thỉnh hỏi, lại càng xa tít không chỗ vào. Sư mới phong gói cái chăn của mình và tự nói: “Ðời này nếu chẳng thấu triệt đi thề chẳng mở ra đây”. Từ đó, ngày ngồi đêm đứng như Sư đang chịu tang cha mẹ. Qua bốn mươi chín ngày, bỗng nhiên gặp lúc Thiền sư Cần - Phật Giám lên giảng đường chỉ dạy: “Sum-la và vạn tượng, chỗ in ấn của một pháp”. Nghe thế, Sư chóng tỏ ngộ, bèn đến tỏ bày cùng Thiền sư Cần. Thiền sư Cần bảo: “Thật đáng tiếc một viên minh châu bị gã phong điên này lượm nhặt được!” Và mới cật hỏi Sư rằng: “Linh Vân nói: “Từ sau một lần thấy hoa đào, thẳng đến ngày nay trọn không nghi”. Thế nào là nơi Linh Vân không nghi?” Sư đáp: “Chớ nói Linh Vân không nghi, chỉ nay tìm cái nơi nghi trọn không thể được”. Thiền sư Cần lại hỏi: “Huyền Sa nói: “Chính xác, rất chính xác, dám bảo đảm Lão huynh chưa nơi thấu triệt”. Nào là nơi kia chưa thấu triệt?” Sư đáp: “Rất biết tâm từ của Hòa thượng rất tha thiết”. Thiền sư Cần mặc nhiên đó. Sư bèn lễ bái đứng dậy trình bày kệ tụng rằng: “Trọn ngày nhìn trời chẳng ngẩng đầu, hoa đào đỏ rực mới nâng tròng ngươi. Tha ông lại có lưới ngăn trời, thấu được Lao quan bèn nghỉ thôi”. Thiền sư Cần bèn căn dặn khuyên nên giữ gìn đó. Ðêm đó, Thiền sư Cần lại gằn tiếng bảo cùng đại chúng: “Hồi nãy Thượng tọa Tuân ẩn ngủ đi vậy”. Thiền sư Viên Ngộ nghe thế, nghi ngờ Sư chưa được vậy, mới bảo: “Ta cần phải khám xét qua mới được”. Bèn sai người gọi Sư đến, nhân cùng du sơn, chợt đến một đầm nước, Thiền sư Viên Ngộ xô đẩy Sư xuống nước và vội hỏi: “Lúc Ngưu Ðầu chưa thấy gặp Tứ Tổ thì như thế nào?” Sư đáp: “Ðầm sâu cá nhóm tụ”. Lại hỏi: “Sau khi đã thấy gặp thì thế nào?” Sư đáp: “Cây cao vẫy gió”. Lại hỏi: “Lúc thấy cùng không thấy thì thế nào?” Sư đáp: “Duỗi cẳng chân ở trong cẳng chân thẳng”. Thiền sư Viên Ngộ rất ngợi khen đó. Lúc Thiền sư cần chuyển dời đến Tương sơn, bảo Sư phân tòa giảng pháp. Sư ra hoằng hóa ở Hòa sơn tại Lô lăng, rồi lùi ẩn dật tại quê hương. Các hàng đạo tục nghinh thỉnh Sư đến ở Thiên Thánh. Sau đó, Sư lại chuyển dời đến Hà sơn và Thiên ninh. Có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Chèn nghiến khóa ở núi búa, Phật tổ ra đầu chưa khinh cho. Giả sử Ðề Hồ đầy thế gian, ông không bình báu làm sao lấy? A, ha, ha! Thần núi đanh lưới, Ðạo ngô nhảy múa. Dưa ngọt suốt dãi đều ngọt, bầu đắng tận rễ cũng đắng”. Lại có lúc lên giảng đường, nêu cử câu thoại Bà Tử đốt am, xong Sư bảo: “Phàm phù Tông lập giáo phải là người ấy. Các ông nhìn Bà Tư kia tuy là một nữ nhân mà rất có khí phách trượng phu tác lược. Hai mươi năm hao dầu tốn dấm hẳn là khá biết, một ngày hướng đến đầu sao trăm thước làm cái thất lạc, ngay như được dùng hết khí lực đầu cổ tay lúc bình sinh, tự chẳng phải cái tài tục biết cơ, kịp chăng khéo giỏi hết vụng về ra. Tuy là như vậy, các người cần hiểu chăng? Sau tuyết phủ mới biết tiết tháo của tùng bách, việc khó mới thấy tâm Trượng phu”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Như Lai thiền, Tổ sư đạo, rất kỵ đem tâm ra bên ngoài tìm xét. Từ cửa sở đắc tức chẳng phải trân quý, đặt đất chôn giấu vật báu trong áo, nhà thiền lưu truyền phải kịp đánh động then chốt cửa ải Tổ sư. Phấn phát nhiều năm áo vải, phải quấy phỉ báng ngợi khen giao đó không, dọc rộng ngang dài lẫn lộn vừa đẹp, ông không thấy lão Hàn Sơn trọn ngày vui vui năm dài cầm chổi quét, người việc trong đó như thế nào? Vào ruộng hoang chẳng chọn thư tay nắm lại cỏ. Tham”. Có vị Tăng hỏi: “Thế nào là khách trong khách?” Sư đáp: “Khách đường như trời xa, đợi cửa tợ biển sâu”. Lại hỏi: “Thế nào là chủ trong khách?” Sư đáp: “Lớn nhân nơi đưa khách, nhớ được lúc xa nhà”. Lại hỏi: “Thế nào là khách trong chủ?” Sư đáp: “Cùng gặp chẳng hẳn hỏi tiến trình”. Lại hỏi: “Thế nào là chủ trong chủ?” Sư đáp: “Một ngày nắm Tổ lệnh, ai là người ra đầu”. Lại hỏi: “Khách chủ đã được sư chỉ dạy, còn hướng thượng Tông thừa việc ấy như thế nào?” Sư đáp: “Hướng thượng hỏi tương lai”. Lại hỏi: “Thế nào là việc hướng thượng?” Sư đáp: “Biển lớn nếu biết đủ, trăm sông nên chảy ngược dòng”. Vị Tăng ấy bèn lễ bái. Sư bảo: “Thượng tọa Tuân ba mươi năm học được đến cùng”. Sư từng bảo cùng đại chúng rằng: “Huynh đệ nếu có chỗ tỉnh ngộ, chẳng câu nệ thời tiết, xin lại nêu bày cái tin tức”. Nhân đêm tuyết đổ, có vị Tăng đến gõ cửa phương trượng, Sư dậy nắm đuốc ra oai quát nạt bảo: “Tuyết sân nửa đêm mà cầu quyết trạch nghi tình, nhân gì oai nghi chẳng đầy đủ?” Vị Tăng ấy trông nhìn lại y phục ở tự thân, Sư xua đuổi ra khỏi viện. Sư từng bảo: “Tiên sư (Thiền sư Cần) chỉ năm mươi chín tuổi, tôi nay đã năm mươi sáu tuổi vậy, những ngày còn lại không nhiều”. Ðến ngày mãn hạ giải chế năm Giáp dần (1134) thuộc niên hiệu Thiệu Hưng (1131-1163) thời Nam Tống, Sư trở lui ở Thiên ninh, bảo cùng Cư sĩ Trịch Tích ở Song hòe rằng: “Ngày mồng 08 tháng 10 là ngày húy ky Tiên sư Cần - Phật Giám, và cũng chính là lúc thời hạn Tôi đã đến vậy, xin trở về Chướng nam”. Ðến ngày mồng 04 tháng 10, Trịch Tích sai người em là Sa-môn Ðạo Như đến thăm hỏi Sư. Sư bảo: “Ông đến chánh phải thời vậy. Trước một ngày không nhằm tiện, sau một ngày lầm quá lắm. Tôi tuy cùng Phật Giám đồng điều sinh mà trọn chẳng đồng điều chết. Sáng sớm mai có thể vì tôi tìm một chiếc thuyền con”. Sa-môn Ðạo Như hỏi: “Cần dài bao nhiêu, cao bao nhiêu?” Sư đáp: “Cao năm thước”. Qua ba ngày sau, vào lúc gà gáy, Sư ngồi ngay thẳng như lúc bình thường. Thị giả xin Sư lưu lại kệ tụng. Sư bảo: “Chẳng từng làm được”. Nói xong, Sư bèn thị tịch. Sau khi trà tỳ mà chiếc lưỡi không rã hoại. Có Trần Sư Nhan là người trong quận dùng hộp báu đem đựng cất giấu ở nhà. Môn nhân đệ tử nghinh phụng linh cốt Sư đến dựng tháp an táng bên cạnh viện Phổ ứng.
