Tiểu Sử
Hành Trạng
2. Thiền sư Thiệu Long ở Hổ khâu. Thiền sư Thiệu Long ở Hổ khâu tại phủ Bình giang, vốn người ở Hàm sơn - Hoài chi. Năm chín tuổi, Sư giã từ song thân đến ở viện Phật Tuệ, sáu năm sau, Sư được độ, thọ giới Cụ túc. Lại trải qua năm năm, Sư đến bái yết Thiền sư Tín ở Trường lô, lược đượm nhuần pháp vị. Có người trao truyền ngữ lục của Thiền sư Viên Ngộ - Khắc Cần đến đó Sư đọc xem mà than rằng: “Tưởng rót mời sinh nước dãi, tuy chưa rót ruột tưới lòng, cốt yếu lại khiến người vui thích, Ðệ hận chưa hiểu cười nói vậy”. Sư bèn từ Bảo Phong nương tựa Trạm Ðường, lại làm khách Hoàng Long đến khấu tham Thiền sư Tử Tâm, tiếp đến bái yết Thiền sư Viên Ngộ - Khắc Cần. Một ngày nọ, Sư vào thất, Thiền sư Viên Ngộ nêu cử: “Lúc tánh thấy thấy, chẳng phải là thấy. Thấy còn lìa thấy, thấy không thể kịp”. Rồi đưa nắm tay lên và hỏi: “Có thấy chăng?” Sư đáp: “Thấy”. Thiền sư Viên Ngộ bảo: “Trên đầu lại gắn thêm cái đầu”. Nghe thế, bỗng nhiên Sư khế ngộ chứng đắc. Thiền sư Viên Ngộ quát hỏi: “Thấy cái gì?” Sư đáp: “re kín chẳng phòng ngại nước chảy qua”. Thiền sư Viên Ngộ chấp thuận đó, bèn bảo Sư trông coi Tạng giáo. Có người hỏi Thiền sư Viên Ngộ: “Tạng chủ Long mdềm mại dễ dàng như thế, sao có thể làm ư?” Thiền sư Viên Ngộ bảo: “Hổ ngủ gật vậy”. Về sau, Sư trở về quê hương, lúc ra hoằng hóa, Sư ở tại Khai Thánh, đến lúc gặp nạn loạn trong niên hiệu Kiến Viêm (1127-1131) thời Nam Tống, Sư mới lập am ở dưới Ðồng phong, Quận thú Lý Công Quang thỉnh mời Sư đến ở Chương giáo. Tiếp sau đó, sư chuyển dời đến ở Hổ khâu. Ðồ chúng nhóm tụ đông nhiều, Ðạo phong vang vọng. Có lúc, Sư chỉ dạy đại chúng rằng: “Bỗng mở cửa sổ, muôn dặm chẳng treo mảnh mây, mặt nhật vọt giữa không trung, bốn phía gió trong mát đầy tòa, ánh sáng Hồ mênh mông, sắc màu đồng nội lắng tỏ, muôn tượng sum-la toàn hiện Hải Ấn, ngay như được mỗi mỗi diệu dụng, vật vật thật có, tâm cảnh nhất như, mảy trần chẳng lập. Chánh nghĩ gì là muôn cơ thôi nghĩ, ngàn thành chẳng dắt, ngồi ngay trên đỉnh Tỳ-lô, chẳng bẩm nhận Thích-ca Văn, thấp hèn nhìn đứa ở văn kêu làm Bồ-tát, Ðức Sơn, Lâm Tế, ngay được mắt trợn miệng cắn, có đánh có hét, một điểm cũng dùng không được. Hãy nói bỗng nhiên lúc gặp người trong đó lại, nói năng như thế nào? Nghiêng che cùng gặp vốn xưa cũ, sao phòng ngại lại uống trà Triệu Châu”. Có lúc Sư lại bảo: “Trước mắt không pháp, muôn tượng tự nhiên, ý ở trước mắt, bỗng ra khó rành, chẳng phải pháp trước mắt, nơi chạm gặp hắn chẳng phải nơi đến của tai mắt, chẳng lìa thấy nghe hay biết. Tuy là như vậy, cũng phải là then chốt cửa hướng thượng kia mới được. Do đó, nói lưới lồng chẳng chịu ở, kêu réo chẳng xoay đầu, Phật tổ chẳng an bài đến nay không nơi chốn, như vậy thi chẳng nhọc kiểm niệm, cửa lầu các mở, tấc bước chẳng dời, trăm thành đều đến”. Bỗng nhiên Sư nắm cây gậy họa vẽ một đường, tiếp bảo: “Ði đường gặp rắn chết chớ đánh giết, Lam Tử không đáy đầy đem về”. Lại có lúc Sư bảo: “Ánh sáng chẳng phải chiếu, cảnh cảnh chẳng phải còn. Ánh sáng và cảnh đều quên, lại là vật gì? Trên đầu trăm cỏ thôi bải tức ở giáo mác thì tạm yên đặt, bỗng như tượng lớn ở Gia châu cưỡi ngược trâu sắt Thiểm phủ, năm núi Tu-di đánh một cái trăm thừ vỡ vụn, ngựa chạy trong nước Tân-la, nói Thiền ở Nam Thiệm bộ châu, lại làm sao sống? Trên núi Ngũ đài mây nấu cơm, trước thềm điện Phật chó tiểu ngày, trên đầu sát can nấu dùi con, ba con Hồ tôn đêm rây tiền”. Có lúc, Sư lại bảo: “Phàm có bày gá đều rơi lạc thời nay, chẳng bày chẳng gá rơi hầm lạc hố, ngay như gió thổi chẳng vào, nước rưới chẳng dính, kiểm điểm đem lại tự cứu chẳng xong. Há chẳng thấy nói ngay tợ bóng trăng đầm lạnh, tiếng chuông đêm lắng, tùy gõ đánh mà không khuyết mất, chạm sóng xao mà không tan biến, còn là việc ở đầu bờ sinh tử. Sư nắm cây gậy họa vẽ một đường, tiếp bảo: “Cắt đứt dây leo nhiều năm của người xưa, chấm đầu đá bất chợt vỗ tay chẳng cười. Hãy nói cười cái gì? Sau đầu não thấy tai chẳng cùng qua lại”. Ðến năm Bính Thìn (1136) thuộc trong niên hiệu Thiệu Hưng (1131-1163) thời Nam Tống, Sư hiện tướng cảm chút bệnh mà thị tịch, dựng tháp an táng toàn thân tại góc Tây Nam của chùa.
