0-TS Khai Phước Đạo Ninh

Tiểu Sử

Danh Tánh 0-TS Khai Phước Đạo Ninh -
Sanh#1Năm Sanh1053
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối PhápTổ Thứ 47 - TS Ngũ Tổ Pháp Diễn - Ðời Thứ 10 Tông Lâm Tế
Đồng Môn ♂️ 0-TS Nam Thiền Tông Cổ, ♂️ 0-TS Diên Mục Tề, ♂️ 0-TS Diên Phước Viễn, ♂️ 0-TS Ngũ Tổ Tông Tự, ♂️ 0-TS Đại Minh Minh, ♂️ 0-TS Tứ Diện Sơn Lân, ♂️ 0-TS Vân Đảnh Tài Lương, ♂️ 0-TS Hải Hội Tuệ Tông, ♂️ 0-TS Ngưu Tâm Ðạt, ♂️ 0-TS Pháp Sơ, ♂️ 0-TS Trung Phong Tuân Tân, ♂️ 0-TS Cửu Đảnh Tố, ♂️ 0-TS Long Hoa Ðạo Sơ, ♂️ 0-TS Nguyên Lễ, ♂️ 0-TS Vô Vi Tông Thái, ♂️ 0-TS Tạng Chủ Phổ Dung, ♂️ 0-TS Ngũ Tổ Biểu Tự, ♂️ 0-TS Thanh Viễn Phật Nhãn, ♂️ 0-TS Thái Bình Huệ Cần Phật Giám, ♂️ Tổ Thứ 48 - TS Viên Ngộ Khắc Cần Phật Quả - Ðời Thứ 11 Tông Lâm Tế, ♂️ 0-TS Đại Tùy Nguyên Tỉnh
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Đại Quy Thiện Quả
#2Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Đại Quy Thiện Quả
Tịch#1Viên Tịch1113

Hành Trạng

4. Thiền sư Ðạo Ninh ở Khai phước. Thiền sư Ðạo Ninh ở Khai phước tại Ðàm châu, vốn người dòng họ Uông ở Hấp khê. Thưa tráng niên, Sư làm Ðạo nhân lo việc tắm rửa ở chùa Sùng quả, một ngày nọ sắp rửa chân, chợt nhiên tụng kinh Kim Cang đến : “Ðối với chương cú đây mà hay sinh lòng tin, lấy đó làm thật”, bèn quên moi sự nhận biết, bỗng nhiên duỗi chân vào trong bồn nước nóng, phát minh chính mình. Sau đó, Sư xuống tóc xuất gia tại Tương sơn, lại đến nương tựa Thiền sư Lão Lương ở Tuyết đậu. Trải qua hai năm, vân du khắp chốn tùng lâm, tham phỏng các bậc danh túc, về sau đến Bạch Liên, nhân lúc tiểu tham nghe Ngũ tổ (Thiền sư Diễn) nêu cử câu thoại bình sạch xưa cũ của Ðức Phật của Quốc sư Trung và con chó không có Phật tánh của Triệu châu, Sư bèn thông suốt nguồn pháp. Trong khoảng niên hiệu Ðại Quán (1107-1111) thời Bắc Tống, Ðàm Soái Tịch Công Chấn thỉnh mời Sư đến ở Khai phước, các hàng nạp tử đua nhau đến nương tựa. Nhân ngày tắm Phật, lên giảng đường, Sư bảo: “Chưa lìa khỏi Ðâu suất đã giáng hiện nơi Vương công, chưa ra khỏi thai mẹ mà độ người đã hoàn tất. Chư vị Thiền đức! Thường ngày mặt nhật từ bờ phía Ðông xuất hiện, mỗi sớm mai canh năm gà gáy. Tuy chẳng phải động Ðào hoa, xuân đến hoa đào cùng đầy khe”. Sư lại bảo: “ Trong vườn Tỳ lam từ hông phải đản sinh, bảy bước đi quanh mắt nhìn bốn phía, trên trời dưới trời chỉ mình ta riêng tôn quý. Rất tợ như tham trông nhìn vầng nguyệt trên trời bỏ mất châu ngọc trong tay. Lại có biết nơi rơi lạc chăng? Nếu biết được nơi rơi lạc mới là con hiếu cháu thuận. Còn như chưa được vậy, thì chẳng khỏi lại phải cước chú ở dưới”. Ngưng giây lát, Sư bảo: “Bẩm tánh kỹ lưỡng hay kỳ quái, chưa lên luân kia đùa một trường”. Có lúc Sư chỉ dạy đại chúng rằng: “Ngày thu sáng rực trời, sông thu lạnh trời biếc, thương thay người ngoài cửa, nơi nơi tìm Di-lặc, chợt đường bỗng lắc đầu, cùng gặp chẳng cùng biết. Chư vị Thiền đức! Ðã là cùng gặp vì gì liền chẳng cùng biết? Cắt hết trúc trước sương, vào khe chẳng hóa rồng”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Khắp cõi chẳng từng ẩn giấu, thông thân không ảnh tượng, cùng gặp chớ ngờ rất ngu si, nhiều kiếp đến nay không kỹ lưỡng, không kỹ lưỡng ít người biết. Ðại để kẻ kia da cốt đẹp nào phải soi kiếng vẽ lông mày”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Chánh lệnh Ma-kiệt chưa khỏi gập ghềnh, thiết thất duỗi tâm từ sớm thương phong cốt, mang đãy cầm tích cô phụ bình sinh, luyện hạnh lạnh lòng vội cùng dốt đặc, sao tợ mùa xuân mua tạnh núi xuân xanh, mây trắng ba mảnh bốn mảnh, chim vàng một tiếng vài tiếng, ngàn mắt đại bi nhìn chẳng đủ. Vương Duy tuy khéo vẽ khó thành, ngay như tiện nghĩ gì, còn tự giẫm trải đồ trình, tạm một câu chẳng giẫm trải đồ trình làm sao sống? Nói. Người từ Biện Châu lại chẳng được tin Ðông kinh”. Có vị Tăng hỏi: “Lúc hoa sen chưa ra khỏi nước thì thế nào?” Sư đáp: “Người trời đếu chấp tay”. Lại hỏi: “Sau khi đã ra khỏi nước thì thế nào?” Sư đáp: “Chẳng ngại qua lại trông nhìn”. Lại hỏi: “Thế nào là câu đến mà ý không đến?” Sư đáp: “Cỏ lành vốn không rễ, thư tay nắm lại dùng”. Lại hỏi: “Thế nào là ý đến mà câu chẳng đến?” Sư đáp: “Lãnh lấy ý đầu móc câu, chớ nhận định bàn tinh”. Lại hỏi: “Thế nào là ý và câu đều đến?” Sư đáp: “Ðại bi chẳng bày tay, thông thân là tròng mắt”. Lại hỏi: “Thế nào là ý và câu đều chẳng đến?” Sư đáp: “Bạn đến Tiêu tương, Tôi đến Tần”. Ðến ngày mồng 04 tháng 11 năm Chánh Hòa thứ ba (1113) thời Bắc Tống, Sư cạo tóc tắm gối, qua hôm sau, nhân lúc tiễn tham sau khi thọ trai xong, Sư khuyên răn đại chúng hành đạo, ngôn từ rất mực chân thành tha thiết. Ðến lúc mặt nhật xế bóng về Tây ngày mồng bảy, Sư ngồi kiết già mà thị tịch. Sau khi trà tỳ thâu nhặt được xá-lợi năm sắc, thỉnh đưa về tôn trí trong tháp mà phụng thờ.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.