0-TS Thanh Viễn Phật Nhãn

Tiểu Sử

Danh Tánh 0-TS Thanh Viễn Phật Nhãn -
Sanh#1Năm Sanh1067
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối PhápTổ Thứ 47 - TS Ngũ Tổ Pháp Diễn - Ðời Thứ 10 Tông Lâm Tế
Đồng Môn ♂️ 0-TS Nam Thiền Tông Cổ, ♂️ 0-TS Diên Mục Tề, ♂️ 0-TS Diên Phước Viễn, ♂️ 0-TS Ngũ Tổ Tông Tự, ♂️ 0-TS Đại Minh Minh, ♂️ 0-TS Tứ Diện Sơn Lân, ♂️ 0-TS Vân Đảnh Tài Lương, ♂️ 0-TS Hải Hội Tuệ Tông, ♂️ 0-TS Ngưu Tâm Ðạt, ♂️ 0-TS Pháp Sơ, ♂️ 0-TS Trung Phong Tuân Tân, ♂️ 0-TS Cửu Đảnh Tố, ♂️ 0-TS Long Hoa Ðạo Sơ, ♂️ 0-TS Nguyên Lễ, ♂️ 0-TS Vô Vi Tông Thái, ♂️ 0-TS Tạng Chủ Phổ Dung, ♂️ 0-TS Ngũ Tổ Biểu Tự, ♂️ 0-TS Khai Phước Đạo Ninh, ♂️ 0-TS Thái Bình Huệ Cần Phật Giám, ♂️ Tổ Thứ 48 - TS Viên Ngộ Khắc Cần Phật Quả - Ðời Thứ 11 Tông Lâm Tế, ♂️ 0-TS Đại Tùy Nguyên Tỉnh
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Việt Châu Thế Kỳ, ♂️ 0-TS Tam Thánh Chân Thướng, ♂️ 0-TS Tam Giác Cật, ♂️ 0-TS Thị Giả Biện, ♂️ 0-TS Tam Thánh Ðạo Phương, ♂️ 0-Am Chủ Tịch, ♂️ 0-TS Vân Cư Viên, ♂️ 0-TS Vân Cư Tổ, ♂️ 0-Cư Sĩ Cấp Sự Phùng Tiếp, ♂️ 0-TS Phương Quảng Thâm, ♀️ 0-TSN Tịnh Cư Huệ Ôn, ♂️ 0-TS Đạo Tràng Minh Biện, ♂️ 0-TS Quy Tông Chánh Hiền, ♂️ 0-TS Thành Đô Thế Kỳ, ♂️ 0-TS Bạch Dương Pháp Thuận, ♂️ 0-TS Hoàng Long Pháp Trung, ♂️ 0-TS Tây Thiền Văn Liên, ♂️ 0-TS Vân Cư Pháp Như, ♂️ 0-TS Ô Cự Đạo Hạnh, ♂️ 0-TS Long Tường Sĩ Khuê, ♂️ TS Thủ An Thạch Quy, ♂️ 0-TS Vân Cư Thiện Ngộ
#2Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Việt Châu Thế Kỳ, ♂️ 0-Am Chủ Tịch, ♂️ 0-TS Tam Thánh Ðạo Phương, ♂️ 0-TS Vân Cư Tổ, ♂️ 0-TS Vân Cư Viên, ♂️ 0-Cư Sĩ Cấp Sự Phùng Tiếp, ♂️ 0-TS Thành Đô Thế Kỳ, ♂️ 0-TS Phương Quảng Thâm, ♂️ 0-TS Đạo Tràng Minh Biện, ♂️ 0-TS Quy Tông Chánh Hiền, ♂️ 0-TS Vân Cư Pháp Như, ♂️ 0-TS Bạch Dương Pháp Thuận, ♂️ 0-TS Hoàng Long Pháp Trung, ♂️ 0-TS Tây Thiền Văn Liên, ♂️ 0-TS Long Tường Sĩ Khuê, ♂️ TS Thủ An Thạch Quy
#3Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Việt Châu Thế Kỳ, ♂️ 0-TS Thị Giả Biện, ♂️ 0-TS Tam Thánh Chân Thướng
#4Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Việt Châu Thế Kỳ
Tịch#1Viên Tịch1120

Hành Trạng

3. Thiền sư Viễn ở Lông môn. Thiền sư Viễn - Phật Nhãn ở Lông môn tại Thư châu, vốn người dòng họ Lý ở Lâm ngang. Sư rất nghiêm chánh, ít nói. Năm mười bốn tuổi, Sư thọ giới Cụ túc, y cứ Luật tạng nghiên cứu thuyết ấy. Nhân đọc kinh Pháp Hoa, đến “Pháp ấy chẳng thể nghĩ lường phân biệt mà biết được”. Sư cố giữ đem hỏi Giảng sư, Giảng sư đáp không được. Sư mới than rằng: “Nghĩa học danh tướng chẳng phải chỗ rõ việc lớn sinh tử”. Xong bèn cuộn áo theo hướng Nam vân du, đến nơi pháp tịch của Thiền sư Diễn đang ở Thái bình tại Thư châu. Nhân xin đến Lô sơn, chợt nhiên hai chân quỵ tế nơi đất, trong lúc đang muộn phiền, nghe hai người mắng rủa nhau. Có người can ngăn là: “Ngươi còn tự ở nơi phiền não”. Ngay lời nói ấy, Sư có chút tỉnh ngộ. Ðến lúc trở về, phàm có hỏi gì, Thiền sư Diễn đều liền bảo: “Ta chẳng như ông. Ông tự hiểu được tốt lành”. Hoặc bảo: “Ta chẳng hiểu ông, chẳng như ông”. Sư càng nghi ngờ, nên đến phỏng hỏi Thủ tòa Nguyên Lễ, Nguyên Lễ mới đưa tay kéo lỗ tai Sư dẫn đi quanh lò lửa vài vòng, vừa đi vừa nói: “Ông tự hiểu được tốt lành”. Sư nói: “Thật là mong nhờ chỉ ra mà ông cùng đùa ư?” Nguyên Lễ bảo: “Ngày sau ông tỏ ngộ mới biết lỗ tai bẻ cong ở ngày nay”. Thiền sư Diễn sắp dời từ Thái bình đến Hải hội, Sư bùi ngùi nói: “Tôi trì bát vừa mới về lại tham, theo đến nơi một viện hoang sao có thể nghiên cứu quyết trạch việc đã rồi ư?” Sư bèn viết bài kệ cáo từ rồi đến kết hạ an cư tại Tương Sơn. Tình cờ gặp Thiền sư Linh Nguyên, ngày một càng thân thiện, trong lúc đang thong dong đàm nói; Sư nói: “Nhờ thấy dưới thành đô có ngữ cú của một tôn túc tợ như có duyên”. Thiền sư Linh Nguyên bảo: “Diễn Công là Tôn sư nhất đẳng trong thiên hạ, cớ sao xa lìa đó mà đến tôn thờ ai nơi phương xa? Chỗ gọi là Người có duyên bởi thầy nhận biết, cùng sơ tâm của ông tương khế vậy”. Sư theo lời khuyên răn ấy, bèn đến thẳng Hải hội. Về sau, Thiền sư Diễn bảo Sư trông coi việc bái yết. Vừa lúc đêm lạnh riêng ngồi một mình, Sư đánh khêu lò thấy đóm lửa bằng hạt đậu, bỗng nhiên tự vui mừng bảo là: “Sâu xa đánh có chút xíu, việc bình sinh chỉ như vậy”. Xong, Sư vội đứng dậy, đọc xem “Truyền Ðăng Lục” để trên án, đến : “Nhân duyên đánh phá bếp táo rơi rớt”, Sư bỗng đại ngộ, làm bài kệ rằng: “Rừng dao dao chim hót Mặc áo ngồi trọn đêm Ðánh lửa rõ bình sinh Cùng thần về phá rơi Việc rõ người tự mê Khúc dạt ai hay biết Nghĩ đó trọn chẳng quên Cửa mở ít người qua”. Nhân đến nơi Liêu Sư ở, Thiền sư Viên Ngộ nêu cử câu thoại rừng xanh ban thổ để kiểm nghiệm Sư, nên hỏi: “Xưa nay không người ra được, ông hiểu như thế nào?” Sư đáp: “Cũng có rất khó”. Viên Ngộ bảo: “Cũng như kia nói xe sắt Thiên Tử, chiếu chỉ trong nước, ý làm sao sống?” Sư đáp: “Tôi nói sách buông tha trong cung Ðế-thích”. Thiền sư Viên Ngộ trở lui nói với mọi người: “Hãy vui mừng Huynh Viễn tiện có câu người sống”. Từ đó, Sư ẩn dật nơi am Ðại trung tại Tứ diện, gặp lúc thiên hạ đua nhau tạo dựng mới chùa Vạn thọ - Sùng ninh. Thư Thú Vương Công tan vỡ bảo Sư khai đường giảng pháp. Tiếp theo bổ Sư đến nhậm Long môn, tiếng tăm Ðạo hạnh Sư vang vọng xa. Về sau Thiên Hóa đến Bao thiền, xu mật Ðặng Công Tuân Võ tấu trình ban tặng Sư hiệu và pháp y sắc tía. Có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Trên đường Ðài sơn khách qua toàn hiếm, trước nhà phá tảo cảm ân không đất, tuyết vùi cây bách giữa sân băng phủ lấp khe, tuy ở phương Nam đều lò lửa, bèn vào nhà khác trong vò dưa muối. Nhìn nhìn ngày ba mươi tháng chạp, bèn là mạnh xuân còn lạnh. Các người mỗi phải tự nỗ lực hướng tới trước, rất kỵ tự sinh lùi khuất”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư chống cây gậy, bảo: “Tròn sáng rõ biết chẳng do tâm nghĩ, đánh chết cần nói rơi hầm rớt hố. Rốt cùng như thế nào?” Xong, Sư mới tụa cây gậy mà xuống khỏi tòa. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Bào huyễn đồng vô ngại, vì sao chẳng liễu ngộ, người trong tròng mắt thổi gọi con đạt pháp tại trong đó, chẳng phải nay cũng chẳng phải xưa, xúc xắc sáu con đầy chén hồng. Ðại chúng! Người lúc ấy vì gì ngồi đất nhìn bình bát Dương châu đặt treo dạng tân phiên, trên trâu cưỡi trâu cười giết người”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Triệu Châu chẳng thấy Nam Tuyền, sơn Tăng không biết Ngũ tổ. Dưa ngọt thì ngọt suốt cành lá, bầu đắng đắng cả gốc rễ”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Một chiếc lá rơi dưới trời xuân, không đường tầm tư giết người. Dưới là trời trên là đất. Lời này lúc chẳng vào lưu ý, Nam làm Bắc, Ðông làm Tây, động mà ngưng, vui mà buồn, đầu rắn đuôi bò cạp một lần thử đó, trong miệng hổ dữ chim tước sống, vậy sao nói về nhà đi”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Ngàn thuyết muôn thuyết chẳng như tận mặt một lần thấy, giả sử chẳng nói cũng tự rành rẽ. Thí dụ dao báu của Vương Tử, thí dụ những người mù sờ voi, việc cách sông vẫy tay trong thiền học, việc cùng thấy ở đình Vọng châu, việc nơi chóng tuyệt không người, việc nơi núi sâu vực thẳm, đó đều là tận mặt mà thấy, chẳng tại ngôn thuyết vậy”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Tô Võ chăn dê nhục chẳng khuất, Lý Lăng nhìn Hán vui quên về. Ðó là tại trong nước hay ngoài nước? Trong đệ tử chư Phật có vị hai chân vượt hầm, có người nhận rõ tiếng sáo đứng dậy múa, có người thân chôn vùi đất phẩn tốt, có người trách mắng thần sông. Ðó là tập khí hay là diệu dụng? Ðến như chống tréo đánh đất, dựng phất trần, gõ thiền sàn, Mục Châu một hướng đóng cửa, Lỗ Tổ trọn năm xoay mặt vách tường. Ðó là vì người hay chẳng vì người? Tin biết hết thảy phàm phu chôn vùi kho báu, rất chẳng là Trượng phu. Các người sao chẳng thể mở bánh lái căng buồm vất bỏ sông qua bờ nghỉ? Lại đinh thông vẫy thuyền, ngày nào về đến nhà? Ðã làm người Tào Khê lại là Hán trong nhà, vậy có thấy việc trong nhà chăng?” Có vị Tăng hỏi: “Kiếp lửa thiêu đốt rụi, đại thiên sa giới đều rã hoại, chưa xét rõ cái ấy rã hoại hay không rã hoại?” Sư đáp: “Trong thùng sơn đen sắc vàng ròng”. Lại hỏi: “Ðạo xa vậy thay, xúc sự mà thật, sao là Ðạo?” Sư đáp: “Trên đảnh tám thước năm”. Lại hỏi: “Lý ấy như thế nào?” Sư đáp: “Vuông tròn bảy tám tấc”. Lại hỏi: “Kiếp lửa từ thời Oai m trở về trước, riêng là một Hồ thiên, săn bắn trước ngự lầu, chẳng là liềm cắt cỏ ruộng, dất dậy ngồi đều nói, cái ấy gọi là cái gì?” Sư đáp: “Chánh là cái liền cắt cỏ ruộng”. Vị Tăng ấy bèn hét, Sư bảo: “Còn ở làm chủ”. Và Sư hỏi vị Tăng ấy: “Lúc ngọn đèn riêng lẻ soi chiếu thì thế nào?” vị Tăng ấy im lặng, Sư thay lời bảo: “Lộ trụ chứng minh”. Sư nghe tiếng bảng khai tỉnh, mới bảo: “Cứ thật kết án”. Sư từng ghi đề nơi vách tường Diên thọ Long môn rằng: “Phật hứa với người có bệnh sẽ vì chữa trị.dung có chỗ tương tức vậy. Rừng thiền phàm có vài tên, hoặc gọi là Niết-bàn thấy pháp thân thường trú rõ pháp bất sinh vậy, hoặc gọi là tỉnh hành, biết đây trái duyên đều theo hành khổ vậy. Hoặc gọi là Diên Thọ muốn được tuệ mạng phò trì sắc thân vậy. Kỳ thật khiến người rõ được nơi sinh tử. Thấy nhiều mà tỏ ngộ ít, cảm mắc chút bệnh bèn vào nhà này. Chẳng mạnh chi tiết tiện có bổ ích, kịp đến lúc lâu nghĩ làng quê chẳng tốt lành, lùi nghĩ diệt trừ gốc khổ. Các bậc Tiên Thánh nói bệnh tật là thuốc tốt của chúng sinh, nếu khéo ăn uống, không gì chẳng lành”. Ðến đầu niên hiệu Tuyên Hòa (1119) thời Bắc Tống, Sư lấy cớ bệnh, giã từ trở về lại Ðông đường ở Tương sơn. Qua năm sau (1120), viết mây một ngày trước. Thọ trai xong, ngồi kiết già, Sư bảo cùng đồ chúng rằng: “Những bậc Lão túc ở các phương đến lúc lâm chung thảy đều lưu lại kệ tụng giã từ cõi đời. Cõi đời có thể giã từ ư? Tạm lấy an ổn đi”. Xong, Sư mới chấp tay an nhiên thị tịch, môn nhân đệ tử dùng hộp tôn trí di cốt thỉnh về Long môn, dựng tháp tôn thờ bên cạnh đài Linh quang.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.