0-TS Trường Linh Thủ Trác

Tiểu Sử

Danh Tánh 0-TS Trường Linh Thủ Trác -
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối Pháp0-TS Duy Thanh Linh Nguyên
Đồng Môn ♂️ 0-TS Long Khánh Hải, ♂️ 0-TS Quang Hóa Nhã Tú, ♂️ 0-TS Quy Phong Tăng Lân, ♂️ 0-TS Khâm Sơn Nguyên Ðức, ♂️ 0-TS Linh Phong Duy Cổ, ♂️ 0-TS Thiên Ninh Tông Giác, ♂️ 0-TS Pháp Luân Thật, ♂️ 0-TS Mãn Nguyệt Ninh, ♂️ 0-Cư Sĩ Tự Thừa Ðới Đạo Thuần, ♂️ 0-TS Quang Hiếu Ðức Chu, ♂️ 0-Cư Sĩ Tri Huyện Tiêu Tùng, ♂️ 0-TS Quang Hiếu Ðàm, ♂️ 0-TS Bắc Sơn Tử Kinh, ♂️ 0-TS Bách Trượng Dĩ Thê, ♂️ 0-TS Thượng Phong Bản Tài, ♂️ 0-TS Hoàng Long Ðức Phùng, ♂️ 0-TS Pháp Luân Ứng Ðoan
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Kính Sơn Duy Biểu, ♂️ 0-Am Chủ Ôn Châu Phù, ♂️ 0-TS Bản Tịch Văn Quan, ♂️ 0-TS Hiển Ninh Viên Trí, ♂️ 0-TS Đạo Tràng Cư Tuệ, ♂️ 0-TS Ô Hồi Lương Phạm, ♂️ 0-TS Đạo Tràng Tuệ Lâm, ♂️ 0-TS Dục Vương Giới Kham

Hành Trạng

1. Thiền sư Thủ Trác ở Trường linh. Thiền sư Thủ Trác ở Trường linh - Thiên ninh tại Ðông kinh, vốn người dòng họ Trang ở Tuyền châu. Có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Ba ngàn kiếm khách riêng hứa Trang Chu. Vì gì nhảy chẳng ra? Nơi cửa thầy thuốc giỏi có lắm bệnh nhân, nhân gì chẳng tiêu một tráp? Người đã thấu cửa ải, lại xin mời biện rõ xem?” Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Thí như nhãn căn chẳng tự thấy mắt, tánh tự bình đẳng, như ai không bình đẳng, tiện nghĩ gì đi, dùi sắt không lỗ liền tạm an đặt. Ngay như đạt được vào rừng không động cỏ, vào nước chẳng động sóng, cũng là một kỳ phương tiện. Nếu cũng trúc trong hàng rào kéo măng ngoài hàng rào, hoa khe Ðông nở, khe Tây hiện sắc hồng, lại đợi khám qua mới đánh”. Có vị Tăng hỏi: “ Ðơn Hà đốt Phật gỗ, Viện chủ vì gì rụng mày râu?” Sư đáp: “Mèo con biết leo cây”. Lại hỏi: “Sớm biết như vậy nhưng sau cùng không như vậy?” Sư đáp: “Tiếc lấy lông mày”. Lại hỏi: “Thế nào là việc dưới áo nạp?” Sư đáp: “Trời nắng hạn làm dân chúng buồn”. Lại hỏi: “Lúc Phật chưa xuất hiện nơi đời thì như thế nào?” Sư đáp: “Không một mảy may”. Lại hỏi: “Sau khi Ðức Phật đã xuất hiện nơi đời thì như thế nào?” Sư đáp: “Ðầy ngòi bít hang”. Lại hỏi: “Lúc xuất hiện và chưa xuất hiện cùng cách nhau bao nhiêu?” Sư đáp: “Người bình lắng không nói, nước bình lắng không chảy”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Bằng cao đến thấp, móc giặc phá nhà, cắt sắt chặt đinh, hồ ly mến nhớ hang. Tất cả chẳng nghĩ gì hợp làm sao sống? Do đó nói, đầu sườn cao trăm nhân thân gần tự buông tay phải là người ấy. Chỉ như trong nước Hương tích một câu mang bát, làm sao sống, nói?” Ngưng giây lát, Sư bảo: “Rất kỵ gió thổi riêng trong điều”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Thích-ca đóng bít thất, quá phạm Di thiên, Da ly cụt từ tự cứu chẳng xong. Vì sao? Vì sao? Cửa miệng quá nhỏ”. Ðến ngày hai mươi bảy tháng mười hai năm Tuyên Hòa thứ năm (1123) thời Bắc Tống, Sư an nhiên thị tịch. Ngày trà tỳ, vua Hy Tông (Triệu Cát) sai Trung sứ mang hương đến tặng, bưng mâm vàng đến mong cầu xá-lợi, hương đốt vừa tàn, trong mâm bỗng có tiếng leng keng, trông nhìn đó có vài viên lớn như hạt đậu đủ cả năm sắc, kẻ Sứ thỉnh đưa về tấu trình, vua trông thấy rất vui mừng.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.