Tổ Thứ 47 – TS Ngũ Tổ Pháp Diễn

Tiểu Sử

Danh Tánh Tổ Thứ 47 - TS Ngũ Tổ Pháp Diễn - Ðời Thứ 10 Tông Lâm Tế -
Sanh#1Năm Sanh1024
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối PhápTổ Thứ 46 - TS Bạch Vân Thủ Đoan - Ðời Thứ 9 Tông Lâm Tế
Đồng Môn ♂️ 0-TS Vân Cái Trí Bản, ♂️ 0-TS Cam Lồ Quy Thiện, ♂️ 0-TS Hương Sơn Tuệ Thường, ♂️ 0-TS Phù Sơn Hồng Liên, ♂️ 0-TS Cốc Sơn Quảng Nhuận, ♂️ 0-TS Thái Bình Xử Thanh, ♂️ 0-TS Sùng Thắng Kỳ, ♂️ 0-TS Thiên Trụ Xử Ngưng, ♂️ 0-TS Lang Da Vĩnh Khởi, ♂️ 0-TS Bảo Phước Thù, ♂️ 0-Cư Sĩ Ðề Hình Quách Tường Chánh
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Nam Thiền Tông Cổ, ♂️ 0-TS Diên Mục Tề, ♂️ 0-TS Diên Phước Viễn, ♂️ 0-TS Ngũ Tổ Tông Tự, ♂️ 0-TS Đại Minh Minh, ♂️ 0-TS Tứ Diện Sơn Lân, ♂️ 0-TS Vân Đảnh Tài Lương, ♂️ 0-TS Hải Hội Tuệ Tông, ♂️ 0-TS Ngưu Tâm Ðạt, ♂️ 0-TS Pháp Sơ, ♂️ 0-TS Trung Phong Tuân Tân, ♂️ 0-TS Cửu Đảnh Tố, ♂️ 0-TS Long Hoa Ðạo Sơ, ♂️ 0-TS Nguyên Lễ, ♂️ 0-TS Vô Vi Tông Thái, ♂️ 0-TS Tạng Chủ Phổ Dung, ♂️ 0-TS Ngũ Tổ Biểu Tự, ♂️ 0-TS Khai Phước Đạo Ninh, ♂️ 0-TS Thanh Viễn Phật Nhãn, ♂️ 0-TS Thái Bình Huệ Cần Phật Giám, ♂️ Tổ Thứ 48 - TS Viên Ngộ Khắc Cần Phật Quả - Ðời Thứ 11 Tông Lâm Tế, ♂️ 0-TS Đại Tùy Nguyên Tỉnh
Tịch#1Viên Tịch1104

Hành Trạng

1. Thiền sư Pháp Diễn ở Ngũ tổ. Thiền sư Pháp Diễn ở Ngũ tổ tại Kỳ châu, vốn người dòng họ Ðặng ở Miên châu. Năm ba mươi lăm tuổi, sư mới xả tục xuất gia. Thọ giới Cụ túc xong, Sư đến Thành đô tập học các luận Duy thức, Bách pháp. Nhân nghe Bồ-tát lúc vào kiến đạo, trí và lý đều mịt mờ, cảnh và thần khế hội. Chẳng phân rõ năng chứng sở chứng. Ở Tây vức có ngoại đạo từng cật nạn các Tỳ-kheo là “Ðã chẳng phân năng chứng và sở chứng, tức lấy gì làm chứng?” không ai đối đáp được. Ngoại đạo bèn nhèm chê đó, khiến không được gióng đánh chuông trống và đắp mặc pháp phục ca-sa. Ðến Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang đến xứ đó, giải cứu nghĩa ấy, bảo là: “Như người uống nước nóng lạnh tự hay”. Mới thông được nạn ấy. Sư tự bảo: “Lạnh nóng thì có thể biết vậy, còn làm sao sống là việc tự biết?” Bèn đem cật hỏi Bản chủ giảng: “Lý chẳng biết tự biết, như thế nào?” Chủ giảng chẳng hiểu câu hỏi ấy, chỉ dẫn dụ Sư là: “Ông muốn rõ suốt điều này, nên đến phương Nam gõ hỏi những vị truyền Phật tâm tông”. Sư liền mang tráp ra đi, phàm thấy gặp những bậc tôn túc nào, Sư cũng đem điều ấy thưa hỏi để quyết trạch, nhưng điều nghi của Sư trọn chẳng thể phá. Kịp đến lúc Sư tới bái yết Thiền sư Bản - Viên Chiếu. Với mọi nhân duyên xưa nay đều hiểu hết, chỉ chẳng hiểu có vị Tăng hỏi Hưng Hóa rằng: “Lúc bốn phương tám hướng lại thì như thế nào?” Sư Hưng Hóa đáp: “Ðánh ngay khoảng giữa”. Vị Tăng ấy đảnh lễ. Hưng Hóa bảo: “Hôm qua ta đến trong thôn thọ trai giữa trưa, trên đường gặp phải một trận gió táp mưa bảo, ta liền đến trong miếu cũ ẩn lánh mà được qua khỏi”. Sư đem điều ấy thưa hỏi Thiền sư Bản - Viên Chiếu. Thiền sư Bản - Viên Chiếu bảo: “Ðây là nhân duyên đưa xuống của Lâm Tế, phải đến hỏi con cháu nhà ấy mới được”. Sư bèn đến bái yết Thiền sư Viễn ở Phù sơn, thưa hỏi câu thoại trước. Thiền sư Viễn bảo: “Ta có một cái thí dụ nói tợ như thế. Cái tương tợ thứ nhất là ba nhà trong thôn bán củi Hán tử, nắm cái gánh dẹp đến đầu ngả tư đường đứng nơi đất hỏi người: “Trong thư đường ngày nay thương lượng việc gì?” Sư im lặng nghĩ tính rồi nói: “Nếu lớn như vậy hẳn chưa nhằm”. Một ngày nọ Thiền sư Viễ bảo Sư là: “Tôi nay già yếu, sợ trống rỗng luống qua tấc bóng của con. Con có thể sang nương tựa Thiền sư Ðoan ở Bạch vân. lão ấy tuy là hậu sinh, ta chưa biết mặt, chỉ thấy lã ta có kệ tụng về câu thoại cây gậy Tam đốn của Lâm Tế, thật có chỗ hơn người, hẳn có thể rõ rành việc lớn của con!” Sư lẳng lặng lễ bái mà giã từ Thiền sư Viễn. Ðến Bạch vân, Sư bèn nêu cử câu thoại, có vị Tăng hỏi Nam tuyền về ngọc ma-ni để thưa hỏi, Thiền sư Ðoan quát mắng Sư, Sư liền lãnh hội im lặng rồi gieo cơ với bài kệ tụng rằng: “Trước núi một mảnh đất ruộng hoang, tréo tay định ninh hỏi tổ ông, bao giờ sẽ bán để tự mua, vì thương tùng trúc dẫn gió lành”. Thiền sư Ðoan đặc biệt ấn chứng cho Sư và khiến trông coi việc lau chùi. Một ngày nọ Thiền sư Ðoan đến nói cùng Sư rằng: “Có vài thiền khách từ Lô sơn lại, đều có nơi ngộ nhận, dạy họ nói cũng nói được cũng có nguyên do, nêu cử nhân duyên hỏi họ cũng rõ được, bảo họ mở lời cũng mở lời được, chỉ là chưa nhằm”. Khi ấy Sư phát nghi lớn, riêng tự nghĩ tính rằng: “đã ngộ rồi, nói cũng nói được, rõ cũng rõ được, cớ sao lại chẳng nhằm?” Sư bèn tham cứu trải qua nhiều ngày, bỗng nhiên tỉnh ngộ, mọi quý tiếc từ trước đồng một lúc buông xuống, liền chạy tới trước Thiền sư Ðoan. Thiền sư Ðoan đưa tay múa máy, chân nhảy nhót, Sư cũng chỉ cười mà thôi. Sau đó, Sư nói: “Tôi nhân đó mà thân mình đổ mồ hôi trắng, mới rõ được dưới chuyên chở gió lành”. Một ngày nọ Thiền sư Ðoan chỉ dạy đại chúng rằng: “Người xưa nói như gương đúc tượng, sau khi tượng thành, gươngtại xứ nào?” Trong chúng mở lời không khế hợp, bèn nêu cử hỏi Sư. Sư đến gần trước mặt hỏi thăm rằng: “Cũng chẳng so sánh nhiều”. Thiền sư Ðoan cười bảo: “Phải là đạo giả mới được”. Và mới bảo Sư phân tòa khai mở chỉ dạy mọi người ở các phương lại. Mới đầu ra hoằng hóa, Sư đến ở Tứ diện rồi chuyển dời về Bạch vân, sau cùng, Sư đến ở Ðông sơn. Có vị Tăng hỏi: “Nắm gậy lãnh chúng, lệnh Tổ đang thực hành, dứt hẳn cốt lõi, ý Sư như thế nào?” Sư đáp: “Gió thu thổi Vị thủy, lá rơi đầy Trường an”. Lại hỏi: “Bốn mặt không cửa núi non đẹp, sáng nay lại được chủ nhân về”. Sư bảo: “Ông nói đầu đường tại nơi nào?” Lại hỏi: “Vì sao đối mặt chẳng cùng biết?” Sư đáp: “Tạm mừng đến lại”. Lại hỏi: “Ý Tổ ý giáo là đồng hay là khác?” Sư đáp: “Người nghèo khổ trí cạn cợt”. Lại hỏi: “Thế nào là nơi Bạch Vân vì người thân thiết?” Sư đáp: “Nắm lay lỗ mũi”. Lại hỏi: “Tiện nghĩ gì lúc ấy thế nào?” Sư đáp: “Chẳng biết gã ốm đau”. Lại hỏi: “Tổ sư Ðạt-ma ngồi xoay mặt vách tường, ý chỉ ấy như thế nào?” Sư đáp: “Tính lường chưa thành”. Lại hỏi: “Lúc Nhị tổ (Thần Quang) đứng giữa tuyết thì như thế nào?” Sư đáp: “Ðem sai lầm đến sai lầm”. Lại hỏi: “Chỉ như chặt tay an tâm lại làm sao sống?” Sư đáp: “Vua Dương Ðế (Dương Quảng 605-617) thời nhà Tùy) mở sông Biện”. Lại hỏi: “Ðầu sào trăm thước làm sao tiến bước?” Sư đáp: Khoái chạy mới được”. Lại hỏi: “Thế nào là việc dưới của Lâm Tế?” Sư đáp: “Tội ngũ nghịch nghe tiếng sấm”. Lại hỏi: “Thế nào là việc dưới của Vân Môn?” Sư đáp: “Cờ hồng sáng rực”. Lại hỏi: “Thế nào là việc dưới của Tào động?” Sư đáp: “Thư chậm chẳng tới nhà”. Lại hỏi: “Thế nào là việc dưới của Quy ngưỡng?” Sư đáp: “Chặt bia ngang đường xưa”. Vị Tăng ấy lễ bái. Sư bảo: “Sao chẳng hỏi việc dưới của Pháp nhãn?” Vị Tăng ấy thưa: “Lưu lại cho Hòa thượng”. Sư bảo: “Người tuần tra phạm đi đêm”. Lại hỏi: “Thế nào là là một giọt nước của Bạch vân?” Sư đáp: “Ðánh xay đánh cối”. Lại hỏi: “Người uống như thế nào?” Sư đáp: “Bảo ngươi không nơi dán mặt” Lại hỏi: “Ðầu lưỡi của người trong thiên hạ đều bị Bạch Vân cắt đứt, còn đầu lưỡi Bạch Vân người nào cắt đứt?” Sư đáp: “Vương Ðại Ông ở thôn Ðông”. Và Sư mới bảo: “Vừa lại nghĩ lường được một tắc nhân duyên, mà nay sớm quên mất rồi vậy, tức là cây gậy ghi nhớ được”. Sư mới nắm cây gậy lên và tiếp bảo: “Cây gậy cũng quên rồi”. Sư lại gõ xuống một cái, bảo: “Ðồng hầm hồ, không khác đất. Ôi!” Có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “May là không một việc, hành cước cần tham thiền, tức bị thiền não loạn, chẳng thấu cửa Tổ sư. Vậy thế nào là cửa của Tổ sư? Nắm lửa vào chuồng trâu!” Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Nghĩ gì? Nghĩ gì tôm nhảy không ra khỏi đấu? Chẳng nghĩ gì; chẳng nghĩ gì, khéo múa thành vụng. Mềm mại tợ sắt, cứng như đất bùn. Tròng mắt kim cang mười hai lượng, đầu cân trong tay nạp Tăng thấp, có giá số không thương lượng, không lõ mũi lấy gì nghe mùi hương?” Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Khó khó bao nhiêu ban, dễ dễ lấp lỗ mũi. Khéo khéo thúc người già, im im theo đây được. qua bốn lớp cửa ấy, người Tứ châu thấy đại Thánh. Tham”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Nếu muốn bảy tung tám hoành thấy lão Hòa thượng, đánh trống lên giảng đường bảy mươi ba, tám mươi bốn. Ðem cây gậy bỗng nhiên tiện đắp. Tuy là như vậy, nhón lấy tức đài xuống ngựa trước cửa, cắt tức dây tơ năm sắc, mới bắt đầu được an lạc”. Có vị Tăng hỏi: “Nhân sư có lời: “Trước núi một mảnh ruộng đất hoang”. Chỉ như từ thời Ðức Phật oai âm vương trở về trước, chưa xét rõ người nào làm chủ?” Sư đáp: “Hỏi lấy người biên ghi bằng khoán”. Lại hỏi: “Hòa thượng vì gì mượn người lại đáp?” Sư đáp: “Bởi vì ông bảo người khác hỏi”. Lại nói: “Cùng Hòa thượng ngang bằng ra vậy”. Sư bảo: “Nơi rất xa”. Lại hỏi: “Thế nào là Phật?” Sư đáp: “Miệng là cửa họa”. Và Sư lại bảo: “Béo tốt từ miệng vào”. Lại hỏi: “Một đời thuyết giáo là cái cắt cẳng chân, chưa rõ cắt chữ nào?” Sư đáp: “Bát-lanương”. Lại hỏi: “Người học chỉ hỏi một chữ, vì gì lại đáp nhiều lắm?” Sư đáp: “Bảy chữ tám chữ”. Lại hỏi: “”Thế nào là gia phong của Hòa thượng?” Sư đáp: “Cờ sắt, trống sắt”. Lại hỏi: “Chỉ có cái ấy hay lại có cái khác?” Sư đáp: “Dò thăm đá vượt qua đầu xem”. Lại hỏi: “Bỗng gặp khách đến làm sao tiếp đãi?” Sư đáp: “Gan rồng tủy phụng tạm đợi lúc khác”. Lại nói: “Khách là chủ nhân cùng Sư”. Sư bảo: “Cảm tạ sự cúng dường”. Lại hỏi: “Thế nào là trước chiếu sau dụng?” Sư đáp: “Lời vua nói như tơ”. Lại hỏi: “Thế nào là trước dụng sau chiếu?” Sư đáp: “Lời ấy ban ra như luân”. Lại hỏi: “Thế nào là chiếu dụng đồng thời?” Sư đáp: “Nhấc dậy Kiếng Hiên Viên, Si Vưu chóng mất oai”. Lại hỏi: “Thế nào là chiếu dụng chẳng đồng thời?” Sư đáp: “Vàng đem vào lửa thử”. Lại hỏi: “Lúc Phật chưa xuất hiện nơi đời thì như thế?” Sư đáp: “Ngu si lớn chẳng bằng ngu si nhỏ”. Lại hỏi: “Sau khi đã xuất hiện nơi đời thì thế nào?” Sư đáp: “Ngu si nhỏ chẳng bằng ngu si lớn”. Lại hỏi: “Lúc Ngưu đầu chưa thấy gặp Tứ tổ thì như thế nào?” Sư đáp: “Trên đầu đội dây xâu duỗi rủ”. Lại hỏi: “Sau khi đã thấy gặp lại như thế nào?” Sư đáp: “Vải xanh ngăn chắn trước”. Lại hỏi: “Lúc chưa thấy vì gì trăm chim ngậm hoa dâng cúng?” Sư đáp: “Giàu và quý là điều ham muốn của con người”. Lại hỏi: “Sau khi vì gì chẳng ngậm hoa dâng cúng?” Sư đáp: “Nghèo và hèn là điều con người chán ghét”. Lại hỏi: “Thế nào là Phật?” Sư đáp: “Ngực bày mười chân”. Lại hỏi: “Thế nào là Pháp?” Sư đáp: “Ðại xa chẳng phóng thả”. Lại hỏi: “Thế nào là Tăng?” Sư đáp: “Câu cá trên thuyền cảm tạ Tam Lang”. Lại hỏi: “Bốn mặt không cửa núi đẹp xinh, trong ấy thời tiết phân thế nào?” Sư đáp: “Ðông Quân biết tử tế, khắp đất hạt mầm nẩy”. Lại nói: “Xuân đi thu lại sự việc uyển nhiên vậy”. Sư bảo: “Vừa mới xoa viên đạn, bèn muốn nắn kim cang”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Người xưa nói nếu ta hướng đến nói với các người tức là cùn ngay chiếc lưỡi của ta, nếu chẳng hướng đến nói với các người tức câm ngay miệng của ta. Hãy nói lại có nơi vì người không? Bốn mặt đồng một lúc phỏng vì các người nuốt ngay, chỉ vị chiếc răng ở ngay cửa cản ngại, phỏng vì các người nhả ra, lại vì cổ họng nhỏ hẹp. Hãy nói lại có nơi vì người không?” Và Sư mới bảo: “Bốn mặt tự lại liễu hạ huệ”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Kết hạ không thể cúng dường làm một nhà yến quản trông nhìn lại các người”. Sư bèn lắc tay bảo: “La la vẫy, la la lay, la la đưa tiễn, chớ quái lại rỗng không, cúi mong. Trân trọng”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Mây trắng chẳng hiểu nói thiền”, ba cửa mở hướng hai bên. Có người động nhằm then chốt, hai mảnh cánh đông cánh tây”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Một hướng nghĩ gì đường đi dứt tuyệt hiếm người, một hướng nghĩ gì đi cô phụ tiên Thánh, cắt bỏ hai đường ấy, Phật tổ chẳng thể gần. Giả sử cùng Bạch Vân đồng sống đồng chết, cũng chưa xứng bình sinh. sao vậy? Phụng hoàng chẳng phải vật phàm gian, chẳng được ngộ đồng thề không gá đậu”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Ngàn núi xếp bày xanh biếc bờ liễu lay vàng, tiều phu ngâm khúc âu ca, ngư nhân cổ vũ, sênh hoàng om sòm, chim hót nỉ non, người đẹp bụi hồng, công tử phong lưu, mỗi mỗi vì các người mở phát. Trên trên máy mở mắt chánh pháp, nếu hướng đến trong đó cử tiến được, sắc vàng đầu đà không nơi dung thân. Nếu cũng chẳng hợp ăn cháo ăn cơm, hứa cho các người bảy xuyên tám đột”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Cái vật này trên chống trời dưới chống đất, hoãn miệng làm mắt, hoãn núi làmmũi, thái bình lùi thân ba bước, buông cho các người ra hơi”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Con chó lại có tánh Phật hay không, cũng hơn con mèo gấp bội mười làn”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Thái bình tài khuất tuần, mọi sự đều trải khắp, như vậy ba mươi năm, cũng có người tán thán cái đạo, tán thán là gì? Khéo cái tài khuất tuần”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Các người thấy lão Hòa thượng cổ động môi mép, dựng đứng cây phất trần, tiện làm thắng giải. Ðến cả chim muôn nơi núi rừng tụ tập, trâu quẩy động đuôi, tức đem làm Ðẳng nhàn, rất không biết tiếng rèm chẳng dứt mưa tuần trước, bóng chớp lại liền sấm đêm sau. Cảm tạ giám thâu”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Tánh mạng của con người việc thứ nhất là O muốn được thành O đây, trước phải phòng ngại ở O, nếu là thật O người O O”. lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Có nơi Phật chẳng được ở, kéo ngay tim gan ngũ tạng ngươi. Không nơi Phật gấp chạy qua. Nhạn bay qua lưu lại tiếng. Ngoài ba mươi dặm gặp người chẳng được thố cử, ra cửa bèn sai lầm, nghĩ gì thì chẳng đi vậy, gieo thóc tức mọc đậu, hái hoa dương, hái hoa dương. Bất chợt ngày lại đêm, tranh dạy người tuổi trẻ”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Ngộ rồi đồng chưa ngộ, về nhà tìm đường cũ, một chữ là một chữ, một câu là một câu, tự nhỏ chẳng thoát không, hai năm học dời bước, nước lắng hoa sen mọc, mỗi năm mọc một lần”. Có vị Tăng hỏi: “Thế nào là đoạt người chẳng đoạt cảnh?” Sư đáp: “Gió thu thổi Vị thủy, lá rơi đầy Trường an”. Lại hỏi: “Thế nào là đoạt cảnh chẳng đoạt người?” Sư đáp: “Trên đường gặp người nữa là Tăng”. Lại hỏi: “Thế nào là người và cảnh cả hai đều đoạt?” Sư đáp: “Giữa trời có trăng soi ngàn nhà, đường lớn không người, riêng mình đi”. Lại hỏi: “Thế nào là người và cảnh cả hai đều chẳng đoạt?” Sư đáp: “Thiếu phụ chèo thuyền đơn, tiếng ca theo dòng nước”. Nhân lúc tiểu tham, Sư nêu cử Ðức Sơn nói là: “Ðêm nay chẳng đáp câu thoại, người hỏi câu thoại ăn ba mươi gậy”. Trong chúng đây người nêu cử có nhiều, người nhận hiểu chẳng thiếu, hãy nói hướng đến nơi nào thấy Ðức Sơn? Co người chẳng đoái hoài tánh mạng, thử ra nói xem? Nếu không, sơn Tăng sẽ cùng Ðức Sơn gặp thấy nhau đi vậy. Ðợi Ðức Sơn nói đêm nay chẳng đáp câu thoại, người hỏi câu thoại ăn ba mươi gậy”, chỉ hướng vào đó nói. Câu thoại của tôi cũng chẳng hỏi, gậy cũng chẳng ăn. Các người nói có khế hợp với lão nhân Ðức Sơn kia chăng? Ðến trong đó phải là cái tài giỏi mới được. Huống gì tôi hơn mười năm lênh đênh trên biển tham tìm, thấy vài vị Tôn túc tự cho là rõ suốt chánh đáng. Kịp khi đến trong pháp hội ở Phù sơn, ngay là mở miệng không được. Sau đến dưới cửa Bạch vân, cắn bể cái bánh đậu sắt chua, liền được trăm thứ mùi vị đầy đủ. Hãy nói một câu hạt đậu làm sao sống? Nói”. Và Sư mới bảo: “Hoa nở mồng gà đẹp sớm thu, ai người hay nhuộm đầu tóc tía, có lúc gió động luôn cùng tựa, tự hướng trước thềm đấu chẳng thôi”. Có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Hôm qua vào trong thành, sơn Tăng thấy một bức tượng gỗ, chẳng khỏi đến gần phía trước xem, hoặc thấy đoan nghiêm kỳ đặc, hoặc thấy xấu xí chẳng kham, chuyển động đi ngồi, xanh vàng đỏ trắng, mỗi mỗi đều thấy rõ, lúc nhìn kỹ vốn là trong màn vải xanh có người. Sơn Tăng Nhẫn Tài giỏi chẳng cấm, mới hỏi Trưởng Lại dòng họ Cao. Kia bảo: “Lão Hòa thượng nhìn xem”, tiện rõ hỏi dòng họ gì. Ðại chúng! Sơn Tăng kia bị hỏi một cái liền bị không lời có thể đáp, không lý có thể bày giải. Lại có người nào vì sơn Tăng nói được chăng? Hôm qua nơi nào mắt rơi, ngày nay nơi nào nhổ gốc”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Nói Phật nói pháp, nắm dùi dựng đứng phủi mây trắng ngàn dặm. Sau đó, nghĩ gì cũng chẳng được, chẳng nghĩ gì cũng chẳng được, nghĩ gì chẳng nghĩ gì tất cả chẳng được vậy, thì mây trắng ngàn dặm bỗng có gã tài giỏi ra nói trưởng lão ấy nghĩ gì nói vậy cũng là mây trắng ngàn dặm, nói năng trong đó gọi làm kẻ hèn kém nhìn đùa theo người lên xuống, ba mươi năm sau một trường khéo cười. Hãy nói cười cái gì? Cười mây trăng ngàn dặm”. Có lúc Sư chỉ dạy đại chúng rằng: “Tổ sư nói: “Tôi đến xứ này, truyền pháp cứu mê tình, một hoa nở năm cành, kết quả tự nhiên thành”. Tổ sư Ðạt-ma tin cẳng chân lại tin miệng nói, con cháu đời sau phần nhiều trở thành lường tính, cần hiểu hoa nở; quả thành nơi nào? Trịnh châu có lê, châu có táo. Muôn vật không qua ra nơi tốt đẹp”. Có lúc Sư lại chỉ dạy đại chúng rằng: “Chân như, Thánh phàm đều là mộng nói, Phật và chúng sinh đều là thêm lời. Hoặc có người ra lại nói lão Bàn Sơn ấy chỉ hướng kia nói, chẳng nhân bờ tía hoa nở sớm, tranh được oanh vàng xuống cành liễu. Nếu lại hỏi đạo, lão Ngũ tổ ấy tự bảo: “Vâng, tĩnh lắng nhằm”. Lại có lúc Sư chỉ dạy đại chúng rằng: “Chư Phật mười phương, sáu đời Tổ sư, các Thiện tri thức trong thiên hạ đều đồng cái đầu lưỡi ấy, nếu biết được cái đầu lưỡi ấy, mới hiểu đại thoát không, tiện nói núi sông đất liền là Phật, cỏ cây tùng lâm là Phật. Nếu cũng chưa biết được cái đầu lưỡi ấy chỉ thành tiểu giải không tự lừa dối đi. Sang mai ngày sau rất có việc nhằm, Ngũ tổ nghĩ gì nói năng lại có nơi đầu thật không? Tự nói có. Thế nào là nơi đầu thật. Về nhà uống trà đi”. Lại có lúc, Sư chỉ dạy đại chúng: “Mỗi ngày dậy chống ngay cây gậy Lâm Tế. Thổi khúc nhạc Vân môn, ứng tiếng vố của Triệu Châu, vác cái thuổng của Ngưỡng sơn, xua đuổi trâu Quy sơn, cày ruộng Bạch vân, bảy tám năm lại tạm thành kế sống của gia đình. Lại báo cùng các ông: mỗi người đưa ra một cánh tay chung cùng nâng giúp xướng nhạc thôn điền, canh thô cơm dạt, tạm nghĩ gì qua. Vì sao? Chỉ mong nguyện năm nay tằm lúa chín, La-hầu-la trẻ con cho một văn”. Có lúc Sư chỉ dạy đại chúng nêu cử Ðức Sơn Hòa thượng nhân có vị Tăng hỏi: “Từ trước các Thánh dùng pháp gì chỉ dạy người?” Ðức Sơn đáp: “Tông ta không cú ngữ cũng không một pháp cho người”. Tuyết Phong từ đó mà có sự tỉnh ngộ. Về sau có vị Tăng hỏi Tuyết Phong rằng: “Hòa thượng thấy Ðức Sơn được cái gì bèn thôi đi?” Tuyết Phong đáp: “Bấy giờ ta đi tay không, về tay không”. Ngày nay Bạch Vân nói thấu đạt người chưa qua. Có người từ Ðông kinh lại, bèn hỏi người ấy: “Từ xứ nào lại?” Người ấy đáp: “Từ Tô châu lại”. Lại hỏi: “Việc ở Tô châu như thế nào?” Người ấy đáp: “Tất cả đều tầm thường”. Tuy là như vậy, nhưng lừa dối không qua Bạch Vân. Cớ sao? Bởi vì ngữ âm mỗi nơi mỗi khác. Rốt cùng như thế nào? Tô châu Quỳ Thiệu Bách Ngẫu”. Có lúc Sư lại chỉ dạy đại chúng: “Phật tổ sinh sau gia, ngộ đại nhuốm bùn đất, vô vi người vô sự, sắc như mù điếc. Hãy nói thế nào tức là phải? Nghĩ gì cũng chẳng được, không nghĩ gì cũng chẳng được. Nghĩ gì, không nghĩ gì tất cả đều chẳng được. Bỗng có người ra nói: “Nghĩ gì cũng được, không nghĩ gì cũng được, nghĩ gì và không nghĩ gì tất cả đều được”. Chỉ hướng kẻ ấy nói: “Ta cũng biết ngươi hướng đến trong hang quỷ làm kế sống”. Lại có lúc nhân tiểu tham, Sư nêu cử đại phu Lục Hoàn hỏi Nam Tuyền rằng: “Trong nhà đệ tử có một phiến đá, cũng từng nằm đó cũng từng ngồi đó, vậy phỏng khắc làm Phật được chăng?” Nam Tuyền đáp: “Ðược”. Lục Hoàn lại hỏi: “Chớ là chẳng được chăng?” Nam Tuyền đáp: “Chẳng được”. Vậy đại chúng, phàm là Thiện tri thức phải sáng tỏ quyết chọn, vì gì người kia nói được cũng đáp được, người kia nói chẳng được cũng đáp chẳng được? Lại có biết nơi lạc của Nam Tuyền chăng? Bạch Vân chẳng tiếc lông mày cho các người chấm phá. Ðược lại là ai nói lại, không được lại là ai nói lại? Các người nếu chẳng hiểu thì đêm nay lão Tăng sẽ vì các người làm cái mô dạng”. Sư mới đưa tay lên, bảo: “Ðem ba cõi hai mươi tám tầng trời làm đầu Phật, lấy ngang mực nước Kim luân làm chân Phật, bốn Ðại châu làm thân Phật. tuy làm như vậy, Phật trẻ con đã xong, các người lại an thân lập mạng nơi nào? Ðại chúng có hiểu chưa? Lão Tăng tiếp làm mô dạng thứ hai vậy. Ðem Ðông-phất-vu-đãi làm một Phật, Nam-thiệm-bộ-châu làm một Phật, Tây-cù-da-ni làm một Phật và Bắc-uất-đơn-việt làm một Phật. Cỏ cây tùng lâm là Phật, hàm linh xuẩn động là Phật. Ðã nghĩ gì lại kêu gì làm chúng sinh. lại có hiểu chưa? Chẳng như Ðông-phất-vu-đãi trở lại Ðông-phất-vu-đãi kia. Nam-thiệm-bộ-châu trở lại Nam-thiệm-bộchâu kia. Tây-cù-da-ni trở lại Tây-cù-da-ni kia. Bắc-uất-đơn-việt trở lại Bắc-uất-đơn-việt kia. Cỏ cây tùng lâm trở lại cỏ cây tùng lâm kia. Hàm linh xuẩn động trở lại hàm linh xuẩn động kia. Do đó nói: “Pháp ấy trụ ngôi pháp, tướng thế gian thường trụ”. Ðã nghĩ gì các người lại gọi gì làm Phật. Lại có hiểu chăng? Bỗng có gã tài giỏi ra nói: “Bạch Vân thôi ngủ mớ”. Ðại chúng ghi nhớ lấy một chuyển ấy, ba Ðức Phật hầu thầy trên sân đình một đêm cùng đàm trò chuyện. Kịp đến lúc trở về thì đèn vừa tắt. Thầy ở trong mờ tối bảo: “Các người nói ra một lời”. Khi ấy, Phật giám nói: “Sắc thái phụng hoàng bay múa đan tiêu”. Phật nhãn nói: “Rắn sắt nằm ngang đường xưa”. Phật quả nói: “Nhìn dưới chân”. Sư bảo: “Kẻ phá diệt tông ta mới là khắc cần vậy!”. Ðến ngày 25 tháng 06 năm Sùng Ninh thứ ba (1104) thời Bắc Tống, Sư lên giảng đường, giã biệt đại chúng rằng: “Hòa thượng Triệu Châu có câu sau cùng. Các người làm sao sống hiểu, thử ra nói xem? Nếu hiểu được thì chẳng phòng ngại tự tại vui sống, như chưa được vậy thì khéo việc lại làm sao nói?” Ngưng giây lát, Sư bảo: “Nói tức nói rồi, chỉ là các người không biết, muốn hiểu chăng? Giàu có hiềm ghét ngàn miệng thiếu, khổ nghèo tự hận một thân nhiều. Trân trọng!” Khi ấy trong có sĩ mộc đến lao dịch đích thân tới đốc suất. Sư lại bảo: “Các người cố gắng dốc sức, tôi chẳng trở lại đây vậy”. Về lại phương trượng, Sư cạo tóc, tắm gội, đợi đến sáng sớm hôm sau, Sư an tọa cát tường mà thị tịch. Ðêm đó núi lở đá lăn, trong khoảng bốn mươi dặm hang cốc chấn động gầm rống. Ðến lúc trà tỳ có Xá-lợi như mưa. Dựng tháp tại phía Nam của Ðông sơn.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.