0-TS Lặc Đàm Văn Chuẩn

Tiểu Sử

Danh Tánh 0-TS Lặc Đàm Văn Chuẩn -
Sanh#1Năm Sanh1061
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối Pháp0-TS Lặc Đàm Khắc Văn
Đồng Môn ♂️ 0-TS An Thạch Vương Kinh Công, ♂️ 0-TS Bảo Phong Sở Nguyên, ♂️ 0-TS Thang Tuyền Thiền, ♂️ 0-TS Từ Vân Ðôn Nhã, ♂️ 0-TS Bắc Thiền Tuệ Chiêu, ♂️ 0-TS Cốc Sơn Hy, ♂️ 0-TS Thạch Sương Thiệu Kha, ♂️ 0-TS Ung Hy Ðạo Quang, ♂️ 0-TS Nam Đài Hồng, ♂️ 0-TS Tào Sơn Tuệ Ngôn, ♂️ 0-TS Bắc Thiền Duy Hiếu, ♂️ 0-TS Quang Hiếu Tuệ Mãn, ♂️ 0-TS Tượng Nhĩ Duy Cổ, ♂️ 0-TS Gia Hựu Vân, ♂️ 0-TS Gia Hựu Ðạo Dụng, ♂️ 0-TS Hoa Dược Anh, ♂️ 0-TS Lặc Đàm Phước Thâm, ♂️ 0-TS Tuệ An Tuệ Uyên, ♂️ 0-TS Song Khê Ấn, ♂️ 0-TS Siêu Hóa Tỉnh, ♂️ 0-Am Chủ Thạch Đầu Hoài Chí, ♂️ 0-TS Hoàng Bá Ðạo Toàn, ♂️ 0-TS Quy Sơn Duẫn Bình, ♂️ 0-TS Thanh Lương Ðức Hồng, ♂️ 0-TS Bảo Hoa Phổ Giám, ♂️ 0-TS Thái Bình An, ♂️ 0-TS Cửu Phong Hy Quảng, ♂️ 0-TS Thượng Phong Tuệ Hòa, ♂️ 0-TS Báo Từ Tấn Anh, ♂️ 0-TS Ngũ Phong Bản, ♂️ 0-TS Đông Sơn Phạm Ngôn, ♂️ 0-TS Pháp Vân Cảo, ♂️ 0-TS Văn Thù Tuyên Năng, ♂️ 0-TS Tuệ Nhật Văn Nhã, ♂️ 0-TS Thọ Ninh Thiện Tư, ♂️ 0-TS Đông Sơn Chí Càn, ♂️ 0-TS Đâu Suất Tùng Duyệt
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-Cư Sĩ Thương Lão Lý Bành, ♂️ 0-TS Quang Hiếu Trí Ðoan, ♂️ 0-TS Hưng Hóa Tông Tuyển, ♂️ 0-TS Tam Giác Trí Nghiêu, ♂️ 0-TS Vân Nham Thiên Du
#2Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-Cư Sĩ Thương Lão Lý Bành, ♂️ 0-TS Hưng Hóa Tông Tuyển, ♂️ 0-TS Tam Giác Trí Nghiêu, ♂️ 0-TS Vân Nham Thiên Du
#3Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-Cư Sĩ Thương Lão Lý Bành
#4Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-Cư Sĩ Thương Lão Lý Bành, ♂️ 0-TS Hưng Hóa Tông Tuyển, ♂️ 0-TS Tam Giác Trí Nghiêu, ♂️ 0-TS Vân Nham Thiên Du
Tịch#1Viên Tịch1115

Hành Trạng

3. Thiền sư Văn Chuẩn ở Lặc đàm. Thiền sư Văn Chuẩn ở Lặc đàm, vốn người dòng họ Lương ở Ðường cổ, phủ Hưng nguyên. Từ thuở mới chào đời, thơ bé nhưng mỗi lúc thấy tôn tượng Phật thì Sư liền cười vui. Ðến tuổi nhi đồng, Sư lại không thích nghe mùi rượu thịt. Có Sa-môn Hư Phổ ở chùa Kim tiên đi khất thực đến nơi nhà, Sư ra ngang cửa nói năng đối đáp như bậc Lão thành. Khi ấy vừa támtuổi, Sư giã từ song thân, nguyện theo Sa-môn hư Phổ dẫn về chùa, trao cho bộ kinh Pháp Hoa và bảo Sư “đây là thượng khẩu của Tôi vậy”. Ðến trong niên hiệu Nguyên Phong (1078-1086) thời Bắc Tống, chư Tăng kiểm xét các đồng tử đã tập học kinh điển để lập thành sổ ghi tên trước sau lần lượt độ cho xuất gia. Sư tuy nghệ tinh nhưng tuổi còn quá nhỏ nên không được ghi tên tấu trình. Thiểm Tây Kinh Lược Phạm Công qua nơi am của Sa-môn Hư Phổ. Sa-môn Hư Phổ tuổi cao tác lớn nói năng ứng đối lãnh lược. Sư đứng hầu bên cạnh tỏ bày biện luận rành mạch, tấn chỉ rất đáng mừng khen. Phạm Công muốn dẫn dắt Sư cùng về Thiểm tây. Sư chối từ mà nói là: “Lên núi tìm ngọc, vào biển tìm châu, mỗi người tự có ý chí riêng khác. Bản hạnh học đạo đời khéo chẳng lòng trong trắng”. Phạm Công ngầm lấy làm kỳ lạ lời nói ấy. Bèn hứa độ Sư xuống tóc làm Tăng. Thế rồi sư đến nương tựa Thiền sư Thừa ở Lương sơn. Thiền sư Thừa quở trách Sư: “Ðuổi quạ (Sa-di) chưa thọ giới dám học Phật thừa ư?” Sư búng tay nói: “Ðàn tràng là giới ư? Ba yết ma, phạm hạnh là A-xà-lê là giới ư?” Thiền sư Thừa rất kinh lạ, Sư cười nói: “Tuy là như vậy, dám chẳng thọ giáo”. Rồi, Sư bèn thọ giới Cụ túc ở Luật sư Ðường An. Xong, vân du khắp các giảng tứ ở Thành đô, xướng nêu cương mục các bộ. Sư bèn giã từ đó mà đi, nói rằng: “Tôi chẳng mong cầu hiểu biết nhiều”. Có Pháp sư Ðàm Diễn lấy làm đẹp lòng với sự tinh anh nơi sư mới đặc biệt vỗ về bảo: “Ông xứng là pháp thuyền vậy! Ở phương Nam có các bậc Ðại khai sĩ như Thiền sư Chân Như ở Quy sơn, Thiền sư Chân Tịnh ở Cửu Phong. Ông nên đến các bậc ấy ma mong cầu”. Sư bèn kính lễ vâng lời, cùng Sa-môn Chí Cung là bạn đồng học, đến Ðại quy, nương tựa qua thời gian lâu mà không khế ngộ, Sư mới đến bái yết Cửu Phong, Thiền sư Chân Tịnh hỏi: “Ông từ nơi nào đến?” Sư đáp: “Từ phủ Hưng hóa”. Lại hỏi: “Gần đây ông xa lìa nơi nào?” Sư đáp: “Ðại Ngưỡng”. Lại hỏi: “Kiết hạ ở xứ nào?” Sư đáp: “Tại Quy sơn”. Thiền sư Chân Tịnh mới nâng bàn tay và bảo: “Tay ta nào tợ gì tay Phật?” Sư mờ mịt. Thiền sư Chân Tịnh quở trách rằng: “Vừa lại vài câu không mảy may sai nhầm Linh Minh Thiên Chân, mới nói cái tay Phật bèn liền cách ngăn cản ngại. Vậy, bệnh tại nơi nào?” Sư đáp: “Không hiểu”. Thiền sư Chân Tịnh bảo: “Hết thảy hiện thành lại dạy ai hiểu?” Sư bèn ứng phục vâng nương theo làm đệ tử. Qua hơn mười năm, Thiền sư Chân Tịnh đến đâu, Sư hẳn tùy theo đó. Ðến năm Thiệu Thánh thứ ba (1096) thời Bắc Tống, Thiền sư Chân Tịnh chuyển dời đến ở Thạch môn, các hàng nạp Tử càng đông thêm nhiều. Phàm những lúc vào thất tham hỏi hẳn mờ mắt, ngồi cao không chỗ chỉ bày. Thấy người lại hẳn dậy theo vân đóng bít thái suất lấy làm thường. Sư từng nói với Sa-môn Chí Cung rằng: “Lão hán không chú ý nơi pháp đạo ư, chẳng thể lường được vậy!” Một ngày nọ, Sư mang gậy ra khơi ngồi nước, vung vẫy ướt áo, nhân đó đại ngộ, chạy về thuật lại việc ấy, Thiền sư Chân Tịnh mắng bảo: “Trong đây mới dám lấy đất làm bùn chưa chín ấy ư?” Từ đó, vết tích Sư càng mờ tịch mà tiếng tăm càng vang vọng. Ðãi Chế Lý Cảnh Chân trấn thú tại Dự chương kính ngưỡng đạo phong của Sư nên thỉnh mời đến khai đường giảng pháp tại Vân nham. Sau đó không bao lâu Ðiện trung giám mang công, Sư từ Nam xương chuyển dời đến ở Lặc đàm. Sư biện luận ngôn từ như nước rót tên bắn, tiến có như sấm quét. Các hàng nạp Tử vừa nể sợ mà cùng kính mộ Sư, dưới dùi phất thường luôn có đến vài ngàn tay. Sư tự lấy hiệu là “Trạm Ðường”. Sư từng bảo: “Tôi chỉ cất giữ một cây gậy, Phật đến thì đánh, Tổ đến cũng đánh. Chẳng đem nguyên chữ cước uyên các ngươi tự khô ruột. Như vậy, một tông Lâm Tế không đế nỗi linh lạc”. Một ngày nọ, mới đến cùng nhìn vừa bày trải tọa cụ. Sư hỏi: “Chưa thấu đạt việc người, Thượng tọa gần đây lìa xứ nào?” Vị Tăng ấy đáp: “Vừa lìa Quy tông ở Lô sơn”. Sư hỏi: “Tông kết quy về xứ nào?” Vị Tăng ấy đáp: “Nghẹn hơi thở”. Sư bảo: “Ểnh ương trong hang làm kế sống”. Vị Tăng ấy hỏi: “Hòa thượng sao không lãnh câu thoại?” Sư bảo: “Vậy há ông chẳng phải từ Quy tông đến ư?” Vị Tăng ấy đáp: “Phải”. Sư bảo: “Ðồ trước lừa sau ngựa”. Sư lại hỏi sang Thượng tọa thứ hai: “Gần đây xa lìa nơi nào?” Vị Tăng ấy đáp: “Vừa xa lìa viên châu”. Sư hỏi: “Nhập hạ ở nơi nào?” Vị Tăng ấy đáp: “Tại Ngưỡng Sơn”. Sư hỏi: “Lại có thấy Tiểu Thích-ca chăng?” Vị Tăng ấy đáp: “Thấy”. Sư hỏi: “Lỗ mũi dài bao nhiêu? Vị Tăng ấy phỏng bàn nghị. Sư bảo: “Câu thoại rơi lạc A Sư”. Sư lại hỏi vị Tăng: “Ông lại làm gì?” Vị Tăng ấy đáp: “Ðặc biệt đến thăm hỏi Hòa thượng”. Sư bảo: “Mây ở đầu non nhàn chẳng suốt, dòng nước dưới khe rất bận sinh”. Vị Tăng ấy thưa: “Hòa thượng chớ khéo lừa dối người”. Sư bảo: “Ðại sư Mã vì gì từ dưới gót chân Xà-lê chạy qua?” Vị Tăng ấy im lặng không nói gì. Sư bảo: “Tức là Xà-lê lừa dối Lão Tăng”. Vị Tăng ấy hỏi: “Lúc có miệng mà nói không được thì như thế nào?” Sư đáp: “Trong hồ Ðộng đình chống ngược thuyền”. Có Tiên Trì ở Vân cư đến, Sư hỏi: “Chưa lìa âu phụ văn thể đã rõ. Ðã đến Bảo Phong làm sao nhả bày”. Tiên Trì đáp: “Trước mắt có đường đi.” Sư đưa thư lên bảo: “Ðã là Vân cư, vì gì lại ở trong tay Bảo Phong?” Tiên Trì đáp: “Binh lính tùy theo ấn chuyển, tướng tá theo phù mã thực hành”. Sư bảo: “Tưởng là rong trước (Tiên Trì) mà chỉ có xông trước, lại không có điện sau”. Một ngày nọ trên giảng đường, gặp Thủ tòa, Sư hỏi: “Hướng nơi nào đi?” Thủ tòa đáp: “Phỏng cùng Hòa thượng thương lượng một việc”. Sư bảo: “Tiện nói”. Thủ tòa hỏi: “Nhà Ðông cán thìa dài, nhà Tây cán thìa ngắn”. Sư bảo: “Vì gì nắm dậy bình trà Huyện củng, tức là chén sứ Nhiêu châu”. Thủ tòa nói: “Gần bờ nhìn vành mắt, đặc đất một trường sầu”. Sư kêu: “Khuất”. Thủ tòa nhả thè lưỡi mà lui ra. Sư ở tại Phần ninh, gặp Hòa thượng Tử Tâm hỏi: “Ông ở đây có trở lại trong núi chăng?” Sư đáp: “Phải đi lễ bái Sư huynh”. Tử Tâm bảo: “Lúc ông lại, khéo nhìn phương tiện”. Sư hỏi: “Cớ sao?” Tử Tâm bảo: “Ðường Hoàng long rất trơn”. Sư hỏi: “Từng trợt ngã bao nhiêu người lại?” Tử Tâm bảo: “Ông chưa đến Hoàng long, sơm rít cẳng chân vậy”. Sư hỏi: “Hòa thượng sao được đóng cửa cùng tiếp đãi?” Tử Tâm hỏi lại: “Chuẩn lão, ông có được bao nhiêu Tăng chúng, chỉ là chụm đầu đánh nhau. Xong rồi nốc cơm. Rốt cùng ông lấy gì vì người?” Sư đáp: “Nhân gió thổi lửa”. Tử Tâm hỏi: “Loạn tất cả làm sao?” Sư đáp: “Từ trước lại có chút ít, và Sư lại hỏi: “Hòa thượng ở trong núi an được bao nhiêu chúng Tăng?” Tử Tâm đáp: “Bốn vị đều là nạp tử tinh tấn trội vượt”. Sư bảo: “Sư tử trong hang chẳng khác các loài thú”. Tử Tâm bảo: “Lúc ông lại cũng phải nên chiếu cố”. Sư nói: “Cũng đợi lúc đến”. Tử Tâm hỏi: “Lúc đến làm sao sinh?” Sư đáp: “Gọi lại rửa chân”. Tử Tâm bảo: “Nhà Tăng Nhĩ xuyên mở hứa lớn miệng”. Sư nói: “Thượng tọa Chuẩn từ trước đến nay như vậy”. Tử Tâm bảo: “Ba mươi năm đùa bởn cưỡi ngựa”. Sư hỏi một vị Tăng: “Làng quê ông xứ nào?” Vị Tăng ấy đáp: “Quê ở châu”. Sư hỏi: “Gần đây xa lìa xứ nào?” Vị Tăng ấy đáp: “Xa lìa Vân cư”. Sư bảo: “Dưới cây an lạc nói đem lại một câu xem?” Vị Tăng ấy im lặng không trả lời. Sư lại hỏi vị Tăng khác bên cạnh: “Ông nói được chăng?” Vị Tăng ấy đáp: “Tôi nói không được, xin Hòa thượng nói”. Sư bảo: “Hướng Bắc, lừa tợ ngựa lớn”. Vị Tăng ấy hỏi: “Cũng gì nào?” Sư bảo: “Lỗ mũi ông vì gì ở trong tay Bảo phong?” Vị Tăng ấy bèn hét. Sư bảo: “Lửa phát trong nước”. Thấy một vị Tăng đang đọc xem kinh, Sư hỏi: “Ông xem kinh gì vậy?” Vị Tăng ấy đáp: “Kinh Kim cang”. Sư hỏi: trong kinh nói pháp là bình đẳng, không có cao thấp, có phải vậy không?” Vị Tăng ấy đáp: “Phải”. Sư hỏi: “Vì sao núi Vân cư cao núi Bảo phong thấp?” Vị Tăng ấy đáp: “Pháp là bình đẳng, không có cao thấp”. Sư bảo: “Ông tức làm được cái tọa chủ sai sử xuống”. Vị Tăng ấy hỏi: “Hòa thượng lại làm sao sống?” Sư bảo: “Hãy cho lỗ mũi ông ra hơi”. Một ngày khác thấy vị Tăng dưới hiên, Sư lại hỏi: “Ông đã hiểu chưa?” Vị Tăng ấy đáp: “Chẳng hiểu”. Sư bảo: “Bên tả rồng xanh, bên hữu hổ trắng”. Vị Tăng ấy nói: “Từ lâu vọng hưởng Bảo phong, thì ra xưa nay chỉ là cái quan bám bói trốn lánh”. Sư mới chấm ngón tay bảo: “Ngày nay Thượng tọa không được tốt lành”. Vị Tăng ấy nói: “Lão Hán bại quyết vậy”. Sư bảo: “Giữa đường gặp kiếm khách, phải trình kiếm”. Sư lại hỏi vị Tăng: “An lạc chăng?” Vị Tăng ấy đáp: “Vô sự”. Sư bảo: “Ông rất có việc ấy”. Vị Tăng ấy hỏi: “Chưa xét rõ tôi có việc gì?” Sư bảo: “Gần đây Kim cang Thượng Lam cùng thổ địa Thiên ninh đánh nhau”. Vị Tăng ấy im lặng không nói gì. Sư bảo: “Xưa nay vô sự”. Sư lại hỏi vị Tăng: “Thế nào là nơi Thượng tọa đắc lực?” Vị Tăng ấy bèn hét. Sư bảo: “Khéo, khéo cùng nhờ hỏi, sao được phát xấu ác?” Vị Tăng ấy lại hét. Sư bảo: “Xưa nay là tác gia”. Vị Tăng ấy nắm tọa cụ tiện đánh, Sư cúi đầu gầm gừ một tiếng. Vị Tăng ấy nói: “Tha qua cho một trứ”. Sư bảo: “Trong ấy chẳng thể tha qua, theo sau bèn đánh”. Sư nói khắp, đại chúng muốn giải tán. Bỗng nhiên Sư hỏi vị Tăng: “Sáng lại sáng đánh, tối lại tối đánh, ông làm sao sống hiểu?” Vị Tăng ấy bèn hét. Sư bảo: “Ðiểm tức chẳng đến”. Vị Tăng ấy lại hét. Sư bảo: “Ðến tức không điểm”. Vị Tăng ấy lại hỏi: “Bỗng gặp lúc không tối không sóng lại làm sao sống?” Sư bảo: “Ngày nay trời lạnh, tạm về nhà hướng theo sau lửa”. Xong, Sư hét một tiếng và đứng dậy”. Một ngày nọ lên giảng đường. Sư bảo: “Bảo phong một đêm ngủ chẳng đặt để tính lường, ngày nay trên giảng đường sờ bụng tìm ngực, tất cả tư lương chẳng đến. Mà nay bức tiết đến lúc, sự việc ra gấp cửa nhà”. Sư bèn nắm cây gậy lên, tiếp bảo: “Thượng tọa Chuẩn mấy ngày gần đây làm được một cái cán phất trần, nay tạm đem phương tiện đem cúng dường đại chúng”. Xong, Sư ném xuống và tiếp bảo: “Rễ tre lá cọ dây gai buộc, dạng độ thiên nhiên riêng một nhà”. Ðến tháng sáu năm Chánh Hòa thứ năm (1115) thời Bắc Tống, Sư nằm trên giường bệnh, Thủ tòa đến thăm, hỏi: “Mấy ngày gần đây, Tôn vị Hòa thượng như thế nào?” Sư đáp: “Lừa què leo lên tường vách”. Thủ tòa thưa: “Hòa thượng cũng khéo uống một thang thuốc”. Sư bảo: “Cây khô đắp cầu”. Thủ tòa thưa: “Cũng biết Hòa thượng chẳng hiểu kỵ miệng”. Sư hỏi: “Ông làm sao sống?” Thủ tòa bỏng bước đến nói. Sư bảo: “Ông cũng khéo nên uống một thang thuốc”. Qua ngày 22 tháng 07 năm đó, Sư thay đổi y phục xong, nói bài kệ tụng mà thị tịch, hưởng thọ năm mươi lăm tuổi, ba mươi lăm hạ lạp. Dựng tháp tôn thờ linh cốt tại Nam Nguyên của Thạch mộn. Thừa tướng Trương Vô Tận soạn thuật văn bia, gián nghị hồng cú phụ ghi tựa ngữ lục. Danh sĩ Lý Thương lão soạn tập dật sự. Ðồng môn đệ tử Ðức Hồng, Giác Phạm biên ghi Hành thật của Sư. Ðạo cao đức lớn của Sư nghĩ tưởng cũng có thể biết vậy. Tú Công Xứng, Hòa thượng Chân Mục vân cư nói với mọi người rằng: “Ra ải chạy sông Hoài Duyệt ba mươi năm, dự tham mười tám vị Thiện tri thức, không qua khỏi năm Ðại sĩ Phật Quả, Phật Nhãn, Tử Tâm, Linh Nguyên, Trạm Ðường mà thôi”. Thành thực thay lời nói đó, bởi bị Tông Sư chân chánh, xét về toàn tài như vậy thật rất khó. Như Phật Quả, Phật Nhãn, Linh Nguyên, Tử Tâm có được đệ tử nối dõi dòng pháp đã là sáng ngời giữa đời. Riêng Sư khai đường giảng đường không mấy ngày nên chưa có người nối tiếp vết cao. Nhưng đọc xem di biên thì tưởng cùng biết được nỗi lòng của Sư, tin các vị khác chưa ai có thể ngón kịp. Samôn Giác Phạm nói: “Thiền sư Văn Chuẩn dưới cửa Chân Tịnh, người đáng gọi là danh gia biện tài, khí chí vượt quá mọi người”. Ước cũng biết lời thay.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.