Tiểu Sử
Hành Trạng
1. Thiền sư Tùng Duyệt ở Ðâu suất. Thiền sư Tùng Duyệt ở Ðâu suất ở phủ Long hưng, vốn người dòng họ Hùng ở Cám châu. Mới đầu, Sư thủ chúng ở Ðạo ngô, dẫn vài nạp Tăng đến bái yết Thiền sư Trí ở Vân cái. Thiền sư Trí cùng Sư nói chưa được vài câu mà biết hết sự tích chứa nơi Sư, mới cười bảo: “Xem thủ tòa khí chất chẳng là phàm, cớ sao mở lời nhả hơi, như người say vậy?” Sư đỏ bừng mặt, toát mồ hôi, thưa rằng: “Xin Hòa thượng chẳng lận tiếc từ bi”. Thiền sư Trí lại cùng nói như dùi nhọn đánh bổ. Sư mịt mờ, bèn cầu vào thất. Thiền sư Trí bảo: “Ông từng thấy gặp Hòa thượng Ngộ ở Pháp Xướng chưa?” Sư đáp: “Ðã từng đọc xem ngữ lục của kia mà tự có thể rõ, cũng chẳng mong thấy gặp đó”. Thiền sư Trí lại hỏi: “Ông đã từng gặp thấy Hòa thượng Văn ở Ðộng Sơn chưa?” Sư nói: “Quan Tây Tử ngập đầu, sau ót mang một dãi quần vải đầy nước tiểu hôi hám, nơi ấy có gì đáng lớn?” Thiền sư Trí bảo: “Ông chỉ hướng đến nơi mùi nước tiểu hôi hám ấy mà tham lấy”. Sư vâng theo sự chỉ dạy đó, bèn đến bái yết Ðộng Sơn (Thiền sư Văn - ở Bảo Phong), ngộ lãnh được áo chỉ sâu mầu rồi trở lại bái yết Thiền sư Trí. Thiền sư Trí hỏi: “Sau khi đến thấy gặp quan Tây Tử rồi, việc lớn như thế nào?” Sư đáp: “Nếu chẳng được Hòa thượng chỉ bày, hẳn sẽ luống qua một đời vô ích”. Bèn đảnh lễ kính tạ. Sư lại đến bái yết chân tịnh. Sau ra hoằng hóa, Sư đến ở Lộc uyển, có Tố là người đã từng dự tham lâu dài nói Từ Minh ngụ ở trong một thất, từ trước chưa từng cùng người gia thiệp. Sư nhân ăn đường một lệ chi, chợt thấy Tố đi ngang qua cửa. Sư liền gọi rằng: “Lão nhân này người quê hương quả thật cũng có thể đồng ăn đây”. Tố nói: “Từ sau khi Tiên sư thị tịch, chẳng được ăn thứ này đã lâu lắm vậy”. Sư hỏi: Tiên sư là ai?” Tố đáp: “Hòa thượng Tử Minh vậy. Tôi rất xấu thẹn đã theo hầu suốt mười ba năm vậy”. Sư mới nghi ngờ kinh hãi bảo: “Suốt mười ba năm kham nhẫn làm thị giả mà chẳng được đạo ấy là sao?” Bèn đưa tặng số trái quả còn lại cho Tố, dần dần thân gần. Tố hỏi: “Sư thấy được từ ai?” Sư đáp: “Hòa thượng Văn ở Ðộng Sơn”. Lại hỏi: “Hòa thượng Văn thấy được từ ai?” Sư đáp: “Hòa thượng Tuệ Nam ở Hoàng long”. Tố nói: “Tuệ Nam dẹp đầu thấy được Tiên sư không bao lâu mà pháp đạo phát triển rất lắm vậy ư?” Sư lại càng kinh ngờ nghi hãi, bèn nắm: “Hương đến lễ bái Tố. Tố đứng dậy lánh né bảo: “Tôi vì phước mỏng, Tiên sư dự ghi không hứa vì người”. Sư lại càng cung kính Tố tiếp bảo: “Nay xót thương sự chí thành của ông tức là trái với dự ghi của Tiên sư vậy. Bình sinh ông đã thành đạt gì thử nói Tôi xem?” Sư bèn trình bày tất cả sở chứng. Tố bảo: “Có thể vào Phật, mà không thể vào ma”. Sư hỏi: “Cớ sao nói như SỐ 2077 - TỤC TRUYỀN ÐĂNG LỤC, Quyển 22 317 vậy?” Tố bảo: “Há chẳng thấy người xưa nói câu cuối cùng mới đến được lao quan”. Trải qua nhiều tháng, Tố mới hứa khả ấn chứng cho Sư, mà răn bảo là: “Hòa thượng Văn chỉ dạy ông đều là chánh tri chánh kiến, nhưng vì ông xa lìa Hòa thượng văn quá sớm nên không thấu đạt rộng rãi huyền diệu đó. Nay tôi sẽ vì ông mà chấm phá, khiến ông thọ dụng được đại tự tại. Ngày sau rất kỵ ông không được nối dõi từ tôi”. Về sau, Sư nối dõi dòng pháp từ Chân tịnh, có vị Tăng hỏi: “Dẫn binh điều tướng phải nhờ phù Hổ của Ðế chúa, lãnh chúng giúp học trò phải kín mang tâm ấn của Tổ sư. Vậy thế nào là tâm ấn của Tổ sư?” Sư đáp: “Ðầy miệng nói chẳng được”. Lại hỏi: “Chỉ cái ấy, riêng có gì chăng?” Sư đáp: “Chớ đem Hạc Chi Tuần kêu làm ngỗng thạch quân”. Lại hỏi: “Thế nào là cảnh Ðâu suất?” Sư đáp: “Một dòng nước nắn sắc lam, ngàn ngọn núi vót ngọc xanh”. Lại hỏi: “Thế nào là người trong cảnh?” Sư đáp: “Bảy lỏm tám lồi không người thấy, ngày tay ngàn đầu chỉ tự biết”. Có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Tai mắt làm sao trong ngồi yên trong cốc sâu, gió thu vào tùng cổ, trăng thu sinh sông lạnh. Nạp Tăng ở đây lại cầu chân, hai con hồ tôn (khỉ) duỗi bốn đuôi”. Xong, Sư hét một tiếng. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Ðâu suất đều không biện biệt, tức gọi quạ rùa làm ba ba, chẳng thể nói diệu nói chân, chỉ hiểu lay môi múa lưỡi, bèn khiến nạp Tăng trong thiên hạ nhìn thấy giọt máu trong mắt. Chớ có kẻ lấy tức giận làm vui vẻ cười ngạo ráng khỏi ư?” Ngưng giây lát, Sư bảo: “Trong ông sáo một khúc nhạc bình, tính được bình sinh chưa giải sầu”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Mới thấy đầu xuân, lại gặp đầu hạ, bốn mùa như tên bắn, nhật nguyệt như thao lao, bất chợt má hồng vụt thành đầu bạc, ngay phải nỗ lực, dốc chí tinh thần cày lấy ruộng vườn của chính mình, chớ phạm vào lúa mạ người khác. Ðã là mang bừa kéo cày như vậy, phải là trâu trắng núi tuyết mới được. Hãy nói lỗ mùi tại nơi nào?” Ngưng giây lát, Sư bảo: “Quát mắng”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Thường ở ngoài vật sống thời yên, trên trâu nắm ngan sáo trúc thổi, một khúc tự sâu núi biếc, tình này chẳng cùng mây trắng hay. Mừng khoái các thiền đức, vụt nghĩ Trần Lễ lừa dối nổi sóng biển, nhân nghĩ Trần Ðoàn mắt rỗng Thái Hoa. Nào từng mộng thấy sóng được cao danh, thật chưa thần rảo nhìn bạc vết đồng hoang. Ðã là như vậy, nạp Tăng đủ mắt sáng chớ nói long an chẳng chính mình kia khéo”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Không pháp cũng không tâm, không tâm sao xả gì, cần chân đều thuộc chân muốn giả toàn về giả, trên đất bằng đi thuyền, trên hư không chạy ngựa, chín năm người ngồi xoay mặt vách tường, có miệng lại như câm. Tham”. Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Ðêm đêm ôm mắt Phật, sáng sớm lại cùng dậy, dậy ngồi trẫm cùng theo nói nín chung ở nghĩ. Muốn biết nói Phật đi, chỉ tiếng nói ấy phải. Chư thiền đức! Lớn nhỏ phó đại sĩ, chỉ hiểu nắm trụ cầu, tắm rửa nắm neo thuyền, trên bảng ấn đánh đem lại, trong mô tử thoát đem đi. Ðâu biết nói bản sắc nạp Tăng bít lấp hang Phật tổ, đánh phá cửa huyền diệu, đạp ra dứt hố thường, chẳng nương cõi tịnh, đều không một vật riêng phân phát hai nắm tay, trên biển giăng ngang dựng nhà lập nước. Có một gã tài giỏi cũng muốn hướng lên đầu sào trăm thước vững chải ngồi yên, kịp đến lúc vụt thân xả mạng chẳng được. Há chẳng thấy Ðại sư Vân Môn nói biết là ban sự nắm bỏ một bên, ngay phải lay động tinh thần đặt chút gân cốt, hướng đến hỗn độn chưa bổ trở về trước dâng cử được, còn là gã ám độn nào kham lại đến trên đầu lưỡi người khác giấm giáp mùi vị trọn không hết ngày. Các thiền khách, cần hiểu chăng? Mổ nổi lông mày có rất khó, rành rẽ không thấy một mảy may, gió thổi bích lạc mây nổi hết, trăng lên núi biếc ngọc một đoàn”. Xong, Sư hét một tiếng rồi xuống khỏi tòa. Một ngày nọ, Tào Sứ Cư sĩ Vô Tận Phương Công Trương anh, Án bộ qua phân minh, thỉnh mời các vị Trưởng lão ở năm viện đến Vân nham giảng pháp. Sư là người lên pháp tòa sau cùng. Nắm ngang cây gậy, Sư bảo: “Các Thiện tri thức vừa lại, ngang nắm dọc buông, ngay đó liệu vất, đổi bước dời thân ẩn đầu bày sừng. Ðã ở trước mặt học sĩ, mỗi tự nhận lấy bại quyết, chưa khỏi thực ăn gậy đau trong tay Ðâu suất. Ðến trong đó chẳng do cam chịu và không cam chịu. Cớ sao thấy việc bất bình mà nhẫn được? Chánh lệnh của nạp Tăng tự phải thực hành”. Xong, Sư gõ cây gậy một cái và xuống khỏi tòa. Ở trong thất, Sư có đặt ba ngữ cú để kiểm nghiệm người học: “Một là đánh cỏ trông nhìn gió, chỉ tranh đồ thấy tánh, tức nay tánh của Thượng tọa tại nơi nào? Hai là biết được tự tánh mới thoát sinh tử. Lúc nhãn quan rơi nơi đất làm sao sống thoát? Ba là thoát được sinh tử, bèn biết nơi đi. Lúc bốn đại phân ly, hướng xứ nào đi?” Ðến mùa Ðông năm Nguyên Hựu thứ sáu (1091) thời Bắc Tống, Sư tắm gội xong, nhóm tập đại chúng, nói kệ tụng rằng: “Bốn mươi tám (48) năm Thánh phàm giết hết Chẳng là anh hùng Long an đường trơn”. Xong, Sư an nhiên thị tịch. Ðồ chúng đệ tử tuân theo di chúc của Sư muốn hỏa táng, vật bỏ di cốt xuống sông. Ðệ tử đắc pháp của Sư là Cư sĩ Vô Tận Trương Công sai sứ gìn giữ cúng tế, và nói là: “Lão sư dưới cửa Tổ Tông là người rất có đạo lực, không thể khiến mọi người đến sau không nơi kính lễ?” Bèn dựng tháp tôn thờ tại Nhũ phong của Long an, truy phong Sư thụy hiệu là “Chân Tịch Thiền sư”.
