Tiểu Sử
Hành Trạng
2. Thiền sư Khắc Văn ở Lặc đàm. Thiền sư Khắc Văn - Chân tịnh ở Lặc đàm tại Hồng châu, Sư xuất phát từ dòng họ Trịnh ở Văn Hương tại Thiểm phủ. Dòng họ Trịnh phần nhiều là những bậc công khanh danh tiếng. Sư vừa mới chào đời mà tuấn kiệt khác thường. Từ thuở bé thơ Sư đã mồ côi, chăm hầu mẹ sau rất mực hiếu thuận mà mất sự mến thương. Người mẹ ấy đã từng làm khốn khổ tủi nhục đối với Sư. Thân phụ buồn thương bèn bảo Sư vân du cầu học ở bốn phương. Sư đến Bắc tháp tại Phục châu, nghe Lão túc Quảng Công giảng nói pháp mà cảm khóc, xé rách nách mà phụng thờ đó, nên Bắc tháp lấy chữ “khắc văn” và đặt gọi tên cho Sư. Năm hai mươi lăm tuổi, xét khảo quá trình tập học mà Sư được xuống tóc xuất gia thọ giới Cụ túc, Sư học kinh luận không gì chẳng thấu đạt huyền diệu. Sư lại vân du đến các giảng tịch ở Kinh lạc, nhân kinh hành nơi hành lan điện Long môn thấy tôn tượng vị Tỳ-kheo được đắp họa nhắm mắt như an định, vụt nhiên tự biết mất, Sư bảo người bạn”. Ta trái nợ như người vật của Ngô Ðạo Tử đắp họa, tuy rất mực kỳ diệu nhưng chẳng phải là người sống”. Do đó, Sư bèn giả từ nơi đấy mà bảo: “Ta sắp theo hướng Nam du phương quán Ðạo vậy”. Năm Trị Bình thứ hai (1065) thời Bắc Tống, Sư an cư kiết hạ tại Ðại quy, ban đêm nghe có vị Tăng đọc tụng văn ngữ của Vân Môn là: Có vị Tăng hỏi: “Phật pháp như ánh trăng trong nước có phải vậy không?” Vân Môn đáp: “Sóng trong không thấu đường”. Bỗng nhiên Sư có sự tỉnh ngộ. Bấy giờ Thiền sư Tuệ Nam đang ở tại Hoàng Nghiệt, Sư bèn tìm đến đó. Vừa gặp lúc Thiền sư Chân giác. Duy Thắng làm thủ tòa, một ngày nọ Thiền sư Tuệ Nam nên cử câu thoại về Cổ đức niệm tụng xưng tán trên lầu chuông, trồng rau dưới cẳng chân giường, và bảo dưới chúng nói. Thiền sư Duy Thắng nói: “Hổ dữ đang ngồi giữa đường”. Thiền sư Tuệ Nam vui mừng đó, bên lui nơi viện mà bảo ở, mà ở nơi am Tích Thúy, Sư đã ba lần đến nơi am nói nhưng chẳng khế hợp, mới bảo: “Lão này chỉ là một vị Tăng tu hành, chẳng hiểu ta nói năng gì”. Sư bèn bỏ đó mà đến bái yết Thiền sư Thuận ở Thúy nham. Thiền sư Thuận là bậc có sự thấy biết rất cao và nói năng khéo léo như dây leo. Mọi người ở các phương đều xưng gọi là Thuận Bà Bà ấy vậy. Thiền sư Thuận hỏi: Ông vừa lìa bỏ xứ nào?” Sư đáp: “Hoàng Nghiệt”. Lại hỏi: “Lão Tử ở đầu am có an lạc chẳng?” Sư đáp: “An lạc”. Lại hỏi: “Ông là người xứ nào?” Sư đáp: “Quan Tây”. Lại hỏi: “Nói năng sao chẳng giống người Quan tây?” Sư đáp: “Từ thơ bé đã từng đi học”. Lại hỏi: “Xuất gia làm Tăng tại xứ nào?” Sư đáp: “Theo Hòa thượng Bắc pháp mà xuống tóc, rồng cùng tài tú đồng tham song tuyền úc”. Thiền sư Thuận cười bảo: “Khuynh và Mật Tổ Ấn dự tham ở hai Ðại lão này, chẳng hiểu ngữ thoại của Cừ, kịp đến ta như nay tham được chút ít thiền cần thấy kia tức là dời đổi phong hóa vậy”. Lại hỏi: “Tông Hoàng Nghiệt ở được như thế nào?” Sư đáp: “Rất tốt lành”. Thiền sư Thuận bảo: “Cử chỉ xuống được một chuyển ngữ tốt lành, bèn ở Hoàng Nghiệt, Thiền tức chưa mộng thấy vậy”. Nhân đó mà Sư đại ngộ Tông chỉ của Lâm Tế, chóng thấy được điểm sử dụng của Thiền sư Tuệ Nam, bèn làm vài bài tụng mà gởi đến. Thiền sư Tuệ Nam rất tán thưởng. Nhân đó, Sư trở về lại tham lễ. Thiền sư Tuệ Nam hỏi: “Ông từ xứ nào đến đây?” Sư đáp: “Thúy nhạc”. Lại hỏi: “Vừa gặp Lão Tăng sao chẳng ở?” Sư tiến tới đáp: “Chưa xét rõ đi hướng nào?” Lại bảo: “Thiên thai thỉnh mời khắp, Nam nhạc đồng nhóm đến”. Sư nói: “Nếu thế thì người học cũng được đi tự do vậy”. Lại hỏi: “Giày dưới cẳng chân có được từ xứ nào lại?” Sư đáp: “Tiền bảy Bác Lô sơn xướng được”. Lại hỏi: “Nào từng tự do?” Sư chỉ đó là nói: “Nào từng chẳng tự do ư?” Thiền sư Tuệ Nam ngờ lạ khác thường về Sư vậy. Bấy giờ, thủ tòa Hồng Anh là người mang danh với Sư. Hồng Anh vốn người xứ Thiệu võ, nên trong đại chúng xưng gọi là “Anh Thiệu Võ, Văn Quan Tây”. Lâu sau, Sư giả từ mà lại đến ngụ ở nơi hội tòa của Thiền sư Thuận tại Thúy nham. Thiền sư Thuận bảo: “Chủng tánh ông xa đi mà khế ngộ rộng lớn. Lâm Tế sắp ngả đổ, năng lực của ông có thể chống đỡ sâu dày hãy nên tự mừng đó”. Ðến lúc Thiền sư Tuệ Nam sang Hoàng Long, Sư lại đến đó. Thiền sư Tuệ Nam bảo: “Vừa khiến thị giả vén rèm hỏi Cừ, lúc cuộn rèm dậy thì thế nào? Ðáp là soi chiếu thấy thiên hạ. Lúc buông rèm xuống thì thế nào? Ðáp: Là nước rỉ chẳng thông. Vậy lúc chẳng cuộn chẳng buông thì như thế nào? Thị giả im lặng không trả lời. Ông lại làm sao sống?” Sư đáp: “Hòa thượng đày thị giả xuống dưới nhà Niết-bàn mời được”. Thiền sư Tuệ Nam gằng tiếng bảo: “Người Quan Tây quả thật không đầu não”. Và mới ngoảy nhìn vị Tăng bên cạnh. Sư chỉ vị Tăng ấy mà nói: “Chỉ như vị Tăng này cũng chưa mộng thấy”. Thiền sư Tuệ Nam cười lớn. Từ đó, trong môn hạ xưng gọi Sư là người kỳ vĩ lạ thường. Tuy những vị bác học đa văn nhưng trông thấy Sư vẫn không khỏi bối rối sợ hãi. Sau khi Thiền sư Tuệ Nam thị tịch, Sư rảo bước đến Hành nhạc, lại làm thủ chúng ở Ngưỡng Sơn. Năm Hy Ninh thứ năm (?) thời Bắc Tống , Sư đến Cao an, Thái thú Tiền Công rảo đánh trước đợi gặp thấy Sư. Sư lại đến ra mắt, có con chó ngao vượt ra ngăn chặn, Sư mới đi vòng quanh nghinh lánh chút ít, Tiền Công giễu cợt bảo: “Thiền giả hẳn có khả năng dạy răn, hổ, mà lại sợ chó ư?” Sư nói: “Dễ nhiếp phục hổ hang núi, khó điều khiến rồng giữ vườn nhà”. Tiền Công mới tán thán rằng: “Thật, danh chẳng dối được”. Bèn mời Sư đến Ðộng Sơn, tiếp theo lại đến ở Thánh thọ. Mới đầu ở Ðộng Sơn, ngày khai mở giảng đường, Sư chỉ dạy đại chúng: “Hỏi đáp hãy tạm dừng. Chỉ biết hỏi Phật hỏi Pháp, rất không biết nơi Phật pháp lại. Hãy nói từ nơi nào lại?” Và, Sư mới duỗi một chân xuống, tiếp bảo: “Ngày xưa Hoàng Long thân hành lệnh này, chư Phật mười phương không dám trái lại, Tổ sư các đời, tất cả Hiền Thánh không ai dám vượt qua. Vô lượng pháp môn hết thảy Diệu nghĩa, các câu thoại đầu của các Lão Hòa thượng trong thiên hạ, đầu cuối một pháp Ấn không dám đổi khác. Không khác tức tạm dừng. Ấn tại xứ nào? Có thấy chăng? Nếu thấy chẳng phải Tăng chẳng phải tục, không thiên không đảng mỗi mỗi phân giao, nếu chẳng thấy tức ta tự thâu lấy. Sư bèn rút chân lại và hét một tiếng, tiếp bảo: “Binh lính tùy Ấn chuyển, Quan tướng theo phù hành, tay Phật chân lừa sinh duyên. Lão khéo đau cho ba mươi gậy, mà nay trong hội chẳng có người không cam nhận chăng? Nếu có thì chẳng phòng ngại kỳ đặc. Nếu không thì Tân Trưởng lão lừa dối các người vậy. Nên đức Ðại giác Thế Tôn của chúng ta ngày xưa ở nơi nước Ma-kiệt-đà lúc sao mai vừa ló dạng sáng ngày mồng 08 tháng 12 bỗng nhiên ngộ Ðạo, khắp đại địa các loài hữu tình thảy đều thành thật. Ngày nay có Sa-môn Thích Tử Khắc Văn ở trong thành Quân Dương dười thời Ðại (Bắc) Tống, tại nước Chấn Ðán (Trung Hoa) vào lúc mặt nhật vừa lóe sáng ngày 13 tháng 06, lại ngộ cái gì?” Xong, Sư nắm cây phất trần họa vẽ một đường và tiếp bảo: “Ta không dám xem thường các người, các người đều sẽ làm Phật”. Rồi Sư bèn xuống khỏi tòa. Lại có lúc, Sư chỉ dạy đại chúng: “Môn hạ Ðộng Sơn có lúc hòa bùn hợp nước, có lúc tường vách dựng đứng ngàn nhận. Các người phỏng hướng đến nơi hòa bùn hợp nước thấy Ðộng Sơn. Ðộng Sơn chẳng ở nơi hòa bùn hợp nước, phỏng hướng đến nơi tường vách dựng đứng ngàn nhận thấy Ðộng Sơn, Ðộng Sơn chẳng ở nơi tường vách dựng đứng ngàn nhận. Phỏng hướng đến tất cả các nơi thấy Ðộng Sơn, Ðộng Sơn chẳng ở tại tất cả các nơi. Các người chẳng cần thấy lỗ mũi Ðộng Sơn hết, ở trong tay Ðộng Sơn phỏng ngủ gật, cũng nắm lỗ mũi kéo hết một lược, chỉ thấy lỗ con mắt định động lại chẳng cùng biết. Cũng chẳng cần các ngươi biết Ðộng Sơn. Tạm biết được chính mình là được”. Sư lại bảo: “Môn hạ Ðộng Sơn cần đi thì đi, cần ngồi thì ngồi, trong bình bát phẩn giải ốm bệnh, trong bình bát đàm khạc dơ dáy, chấp pháp tu hành như trâu kéo mài”. Sư lại bảo: “Ðá Ðầu đà bị bọc trong rêu, núi Trịch bút gặp bệ lệ buộc, viện La-hán mỗi năm độ 3 hành giả, trong chùa Quy tông dự tham xong lui uống trà”. Có vị Tăng hỏi: “Thế nào là Phật?” Sư cười lớn ha, ha. Lại hỏi: “Sao có mỉm cười?” Sư đáp: “Ta cười ông theo lời nói mà sinh phát nhận hiểu”. Lại nói: “Bỗng nhiên mất lợi”. Sư lớn tiếng bảo: “Không được lễ bái”. Vị Tăng ấy bèn trở về trong chúng. Sư lại cười bảo: “Theo lời nói mà phát sinh nhận hiểu, quả nhiên đúng vậy”. Và Sư mới bảo: “Môn hạ Ðộng Sơn tám lõm chín lồi, giao giao, gia gia, cúi cúi, cong cong, gập gập, ghềnh ghềnh, chót vót trọc lóc, mây nước bít ánh ngời, hơi khói nhiều lớp, một đường thẳng lối, kẻ tham quan, kẻ vân du có cả thảy mười tám - mười chín người, dất bước sớm là mê ngay tại đầu đường. Trong đó chớ có người không mê chăng?” Sư bỗng hét một tiếng, tiếp bảo: “Hãy nói đầu đường tại xứ nào?” Sư lại bảo: “Hai chữ Phật pháp chẳng dùng nói nhằm. Nói nhằm thì đầu mọc sừng. Người xưa chỉ hiểu biết giết người chết không biết người sống, sao chẳng nói hai chữ Phật pháp mỗi một hiện thành? Các vị nhân giả, muốn biết Phật gì chỉ các người là phải, muốn biết pháp gì chỉ các người sử dụng thường ngày là phải. Phải và chẳng phải tức cũng rất kỳ đặc. Chẳng phải cũng rất kỳ đặc, giết và sống một nơi chẳng thông, hai nơi mất công, chạm đường thành ứ trệ”. Lại một ngày nọ, sau khi hỏi đáp đã xong, Sư mới bảo: “Có hỏi câu thoại gì nữa chăng?” Ngưng giây lát, Sư bảo: “Ba mươi năm đùa cưỡi ngựa tức bị lừa đánh”. Và Sư liền vỗ đùi vế, tiếp bảo: “Thẳng lên được núi Tu-di cao vợi, nước biển vọt sóng, ba mươi lăm tầng trời lúc lùi ngôi vị, mười tám địa ngục lớn đều ngưng khổ khốc, thấy chăng? Nếu trong đó thấy được thì Ðức Thích-ca khoanh tay, Ðức Di-lặc nhăn mày, Văn Thù, Phổ Hiền cùng đó làm thị giả. Nếu như không thấy thì xem Ta bảy dọc tám ngang cùng đó làm thị giả, tạm hướng đến trong dây leo nêu cử lấy. A, ha, ha. Chư vị cao đức hãy nói Ta cười cái ý gì? Ta cười ngày xưa Vân Môn, Lâm Tế, Ðức Sơn, kham đầu dùng ánh sáng của đom đóm, sự hiểu biết của ve muỗi, một người nói Ta chê Phật mắng Tổ, một người nói Ta thành đạt câu cuối cùng, một người nói Phật pháp ở Hoàng nghiệt không lắm nhiều con, một người nói Ðức Thế Tôn Ðại Giác lúc mới hạ sinh một tây chỉ trời một tay chỉ đất miệng nói “trên trời dưới trời chỉ riêng mình tôi là tôn quý hơn cả”. Bấy giờ nếu Ta thấy thì một gậy đánh giết cho chó ăn, tợ như một đội ấy đánh kháng tài giỏi rỗng không, chỉ là một thời kỳ cùng đó sinh xét qua, ngoài ra bọn phóng buông qua tức không thể, há chẳng nghe. Có vị Tăng hỏi Càn Phong rằng: “Các Bạc-già-phạm ở khắp mười phương đồng một đường đến cửa Niết-bàn, chưa xét rõ đầu đường ấy tại nơi nào?” Càn Phong nắm cây gậy họa vẽ một đường và bảo: “Tại trong ấy”. Chỉ như Càn Phong nghĩ gì từng mộng thấy chưa? Nếu là lão Tăng tức không như vậy. Các Bạc-già-phạm ở khắp mười phương đồng một đường đến cửa Niết-bàn, chưa xét rõ đầu đường ấy tại xứ nào? Ðợi phỏng mở miệng nóng quát đuổi ra. Lại có Vân Môn bẻ cẳng chân vị Tỳ-kheo già, chẳng phân đen trắng, chẳng biện rõ chánh tà. Xong, Sư nắm cái quạt tiếp bảo: “Nhảy vọt lên tầng trời ba mươi ba đắp nhằm lỗ mũi trời Ðế-thích, cá kình biển Ðông đánh một gậy mưa tợ như bát nghiêng đổ, tợ như ban ấy hòa bùn hợp nước tài giỏi, phẩn quét trong đống chôn lấp mười cái, năm cái, lại có rất quá. A, ha, ha, vui chẳng vui, đủ chẳng đủ, mà nay may đối mặt cùng núi xanh nước biếc, năm sau là việc một lúc thôi nghỉ, tin mặc thân tâm biếng lười bó buộc, đại chúng thôi khéo ngủ gật”. Lại nhân ngày giải chế mãn hạ, Sư chỉ dạy đại chúng: “Có người nào hỏi câu thoại chăng?” Và, Sư nắm cây phất trần đánh vào thiền sàn, tiếp bảo: “Trời đất tạo hóa có âm có dương, có sinh có giết, nhật nguyệt soi chiếu có tỏ có mờ, có ẩn có hiện; sông nước chảy đổ có cao có thấp, có đọng có thông; minh chúa trị vì cảm hóa có vua có tôi, có lễ có nhạc, có thưởng có phạt; Phật pháp ở thế gian có đốn có tiệm, có quyền có thật, có kết (buộc) có giải (mở). Kết tức từ ngày 15 tháng 04, khắp cả phương thế giới là Thành là phàm là cỏ là cây”. Sư nắm cái phất trần đánh xuống bên tả một cái tiếp bảo: “Tất cả đều tại trên đầu cây phất trần, có thấy chăng?” Và Sư mới hét một tiếng, lại bảo: “Giải tức là ngày 15 tháng 07, khắp cùng pháp giới hoặc cỏ hoặc cây là Thánh là phàm”. Sư lại nắm cây phất trần đánh xuống bên hữu một cái tiếp bảo: “Từ trong ấy một nơi giải”. Xong, Sư dựng đứng cây phất trần lên, và bảo: “Tất cả đều bị trên đầu cây phất trần, có thấy chăng?” Sư một tiếng, bảo: “Chỉ như từ ngày 15 tháng 04 trở về trước, ngày 15 tháng 07 trở về sau, hãy nói là giải hay là kết?” Sư nâng cây phất trần lên và bảo: “Tất cả đều tại trên đầu cây phất trần, có thấy chăng?” Sư lại hét một tiếng, tiếp bảo: “Các vị cao đức, trong ba tiếng hét ấy, có một tiếng hét là gươm báu kim cang vương, có một tiếng hét là sư tử ngồi xổm nơi đất, và có một tiếng hét là mò cán ảnh cỏ, nếu các người mỗi mỗi biện rành được, mới thấy Ðại sư Lâm tế nói ra chuyện thường tình, Hoàng Nghiệt trùm bàn tay, Ðại Ngu gặp xây đắp, tuy cùng các nhau vài ba trăm năm, mà các ngươi thân gần làm đích tử, sau đó mở lớn cửa huyền diệu không hai, quyền hành các Tổ, dẹp tà ủng hộ chánh, phù trì tông lập giáo, chỉnh đốn giềng mối suy đồi, phóng tung thấy biết lớn, tỏa sang mắt pháp lớn, chẳng động Bản Tế mà quyết thắng quân ma”. Sư mới hét một tiếng, tiếp bảo: “Lại phải biết một tiếng hét chẳng làm, một tiếng hét cần dùng. Ðến trong đó phải là mắt kiên cố hướng đến chưa đi ỉa trở về trước bất chợt dẫn được đi. Các vị cao đức! Hãy nói là dẫn được cái gì?” Ngưng giây lát, Sư lại hét một tiếng và xuống khỏi tòa. Sư trú trì suốt mười hai năm, nhàm chán sự buộc ràng, nên cứng rắn từ tạ mọi sự, rồi theo hướng đông đi đến Tam ngộ. Lúc Sư đến Kim lăng, Vương Kinh Công mới lui sống nhàn tại Ðịnh Lâm, nghe Sư đến, bèn ra nghinh đón. Thế rồi, mừng vui rất lắm, đàm nói trọn ngày. Kinh Công hỏi: “Trong các kinh đầu tiên nêu bày thời xứ (thời gian và nơi chốn), sao kinh Viên Giác riêng chẳng như vậy?” Sư đáp: “Kinh Pháp đốn thừa giảng nói là chỉ ngay cho chúng sinh, nhật dụng hiện tiền chẳng thuộc xưa nay. Chỉ như ngày nay lão Tăng và tướng công đều vào Ðại quang minh tạng, du hý Tam-muội, cùng làm khách làm chủ cho nhau không liên can đến thời và xứ”. Lại hỏi: “Trong kinh nói: “Hết thảy chúng sinh đều chứng Viên giác”. Mà Khuê Phong lấy chứng làm đủ. Vậy người phiên dịch sai nhầm như thế nào?” Sư đáp: “Kiên giác như có thể cải, Duy-ma cũng có thể đổi. Duy-ma há nói là “cùng chẳng diệt Thọ uẩn mà thủ chứng”. Phàm “chẳng diệt Thọ uẩn mà thủ chứng” cùng với “đều chứng Viên giác” ý ấy đồng nhau. Bởi vì chúng sinh hiện hành Vô minh, tức là đại trí căn bản của Ðức Như Lai. Lời của Khuê Phong chẳng là phải”. Kinh Công rất vui mừng, ngợi khen tưởng thưởng qua nhiều ngày, và cúng thí nhà cửa của mình làm thành Phường báu, mời Sư làm Tổ khai sơn thứ nhất. Có lúc lên giảng tòa, Sư bảo: “Ngày nay đại chúng đồng một hội cần biết chăng? Là đại chúng thành Phật thời tiếc sạch duyên, mới ngay nay đây gặp được Ðại thừa tướng Kinh Quốc Công và Phán phủ tả thừa cúng thí nhà cửa vườn rừng làm thành chẳng hùa Phật, thỉnh mời sơn Tăng xiển dương ý Tổ, các người có hiểu chăng? Chỉ thẳng cùng đại chúng tức tâm thấy tánh thành Phật, đại chúng tin được kịp chăng? Nếu tự tin được kịp, tức biết tự tánh xưa nay thành Phật. Giả sử có chưa itn cũng sẽ thành Phật, chỉ vì từ khi mê mờ trở lại trải qua lâu ngày, chợt nghe nói vậy thật khó tin lấy. Vả lại, xưa nay trong thiên hạ các Thiện tri thức, tất cả Thiền đạo, tất cả ngữ ngôn đều là Thiện tri thức từ trong Phật tánh lưu xuất mà kiến lập. Mà lưu xuất là ngọn, Phật tánh là gốc. Phật pháp ở đời gần đây thật rất đáng thương, phần nhiều bỏ gốc theo ngọn, phản chánh theo tà, chỉ nhận ngôn cú câu người xưa lấy làm thiền làm đạo có lắm can thiệp. Ngay như Tổ sư Ðạt-ma từ Tây vức lại cũng không thiền có thể nói. Chỉ cốt yếu đại chúng tự chứng tự ngộ, tự thành Phật, tự kiếp lập hết thảy Thiền đạo. Huống gì là thần thông biến hóa, tất cả chúng sinh tự có đủ chẳng gá tìm cầu bên ngoài. Như nay phần nhiều là mọi người mong cầu bên ngoài, bởi căn bản tự không chỗ ngộ, một hướng khách làm vài trân báu khác, đều là hư vọng, chẳng khỏi lưu chuyển sinh tử. Ðại chúng! Ngày nay hai tướng công đặc biệt tạo lập đạo tràng lớn này để làm Phật sự lớn. Vượt ra ngoài cái khổ lưu chuyển sinh tử của tất cả chúng sinh khắp đại địa hiển bày diệu tăng vắng lặng rộng lớn vốn xưa nay, mở bày thần thông Ðại quang minh tạng vốn có xưa nay. Chỉ bởi vì mê mờ nên mãi ở trong phàm hạ, tỏ ngộ tức Hiền Thánh nay đây. Ðại chúng! Nói nhiều tức cách đạo càng xa, cười các đạo nhân sáng mắt kia, vậy trong chúng chẳng có người sáng mắt ư? Ngày nay Phật pháp lẫn lộn xen tạp, cần nên phân rành tà chánh, để khiến các người chẳng rơi lạc vào tà kiến mà làm mắt chánh của trời người. Có chăng? Có chăng?” Ngưng giây lát, Sư lại bảo: “Ta trọn không dám khinh thường các người, các người đều sẽ làm Phật”. Xong, Sư bèn xuống khỏi tòa. Kinh Công rất vui mừng, đem đạo hạnh của Sư mà tấu trình, Sư được chiếu ban phong tặng hiệu là “Chân Tịnh Thiền sư”. Sau đó không bao lâu, Sư lại nhàm chán sự ràng buộc ồn náo bèn trở về am Cao an ở dưới núi Cửu phong, đền tên là “Ðầu Lão”. Học giả từ các phương xa lại tìm đến. Qua sau sáu năm, Sư lại ra ở Quy tông. Lại thêm hai năm nữa, Trương Thiên Giác do từ tả ty khiển sách Kim lăng tửu quan dấy soái Nam xương, bèn qua Lô sơn gặp thấy Sư, mạnh khỏe rất mực kính lễ, thỉnh mời Sư đến ở Lặc đàm, bỗng chốc Sư lại lui ở Vân am. Ðến sáng sớm ngày mồng 04 thắng 10 năm Sùng Ninh thứ nhất (1102) thời Bắc Tống, Sư hiện tướng bệnh, qua ngày 15, bệnh càng rất lắm, Sư mới bảo đem tất cả mọi vật của riêng mình phân phát cho môn nhân đệ tử. Ðến nửa đêm 16 tháng 10, sau khi tắm rửa xong, Sư ngồi kiết-già, đại chúng thỉnh cầu Sư giảng pháp, Sư mỉm cười bảo: “Năm nay bảy mươi tám (78) Bốn đại sắp chia lìa Gió lửa đã lìa tan Sắp đi thôi lại nói”. Nói xong, Sư bèn thị tịch. Qua bảy ngày sau trà tỳ, trong lửa dữ năm sắc có ánh sáng trắng vọt cao, các nơi khói tỏa đến đều biến thành Xá-lợi. Các hàng đạo tục có hơn ngàn người đều có được, phân chia dựng lập tháp phía dưới núi Bảo liên ở Lặc đàm tại phía bắc Ðộng lưu vân của Ðộng sơn.
