TS Kinh Triệu Duy Khoan

Tiểu Sử

Danh Tánh TS Kinh Triệu Duy Khoan -
Sanh#1Năm Sanh755
Sư Thừa#1Nối PhápChưa Rõ
Nối PhápTổ Thứ 35 - TS Mã Tổ Đạo Nhất - Khai Tổ Hồng Châu Tông
Đồng Môn ♂️ 0-TS Lư Sơn Pháp Tạng, ♂️ 0-TS Toàn Châu Tuệ Trung, ♂️ 0-TS An Phong Hoài Không, ♂️ 0-TS Toàn Châu Vô Liễu, ♂️ 0-TS Lữ Hậu Ninh Bí, ♂️ 0-TS Liên Châu Nguyên Đê, ♂️ 0-TS Tùy Châu Hồng Sơn, ♂️ 0-TS La Phù Đạo Hành, ♂️ 0-TS Côn Sơn Định Giác, ♂️ 0-TS Kinh Triệu Trí Tạng, ♂️ 0-TS Vương Ốc Hành Minh, ♂️ 0-TS Thiên Mục Minh Giác, ♂️ 0-TS Đại Dương Hy Đỉnh, ♂️ TS Giang Tây Bại Thọ, ♂️ TS Cổ Tự, ♂️ TS Hoa Lâm Thiện Giác, ♂️ TS Mã Đầu Thần Tạng, ♂️ TS Đàm Châu Tú Khê, ♂️ TS Hân Châu Đả Địa, ♂️ TS Động An, ♂️ TS Kinh Triệu Thảo Đường, ♂️ TS Bách Linh, ♂️ TS Tây Viên Đàm Tạng, ♂️ TS Tắc Xuyên, ♂️ TS Tòng Sơn, ♂️ TS Lợi Sơn, ♂️ TS Thiều Châu Khổng Nguyên, ♂️ TS Quy Dương Vô Liễu, ♂️ TS Trấn Châu Kim Ngưu, ♂️ TS Tề Phong, ♂️ TS Mễ Lãnh, ♂️ TS Hắc Nhãn, ♂️ TS Thạch Lâm, ♂️ TS Thạch Sương Đại Thiện, ♂️ TS Ôn Châu Phật Áo, ♂️ TS Đại Đồng Quảng Trừng, ♂️ TS U Châu Hồng Loa, ♂️ 0-TS Quang Minh Phổ Mãn, ♂️ 0-TS Hiện Sơn Định Khánh, ♂️ TS Đại Dương, ♂️ 0-TS La Phù Tu Quảng, ♂️ 0-TS Long Nha Viên Sướng, ♂️ 0-TS Vĩnh Thái Linh Thoan, ♂️ 0-TS Vân Thủy Tĩnh Tông, ♂️ 0-TS Kinh Nam Bảo Trinh, ♂️ 0-TS Tề Châu Đạo Nham, ♂️ 0-TS Kiền Nguyên Tự Huy, ♂️ 0-TS Bách Nhan Thường Triệt, ♂️ 0-TS Kim Quật Duy Trực, ♂️ 0-TS Bạch Hổ Pháp Tuyên, ♂️ 0-TS Nam Nhạc Trí Chu, ♂️ 0-TS Kinh Triệu Sùng, ♂️ 0-TS Đỗng Tuyền Duy Hiến, ♂️ 0-TS Từ Bi Tự Lương Tân, ♂️ 0-TS Hà Trung Phủ Pháp Tạng, ♂️ 0-TS Tương Châu Thường Kiên, ♂️ 0-TS Khôi Sơn Đàm Kí, ♂️ 0-TS Quật Sơn Đạo Viên, ♂️ 0-TS Song Lãnh Đạo Phương, ♂️ 0-TS Luyện Sơn Thần Ngoạn, ♂️ 0-TS Phong Sơ Hồng Tuấn, ♂️ 0-TS Chử Kính Thanh Hạ, ♂️ Cư Sĩ Tương Châu Bàng Uẩn, ♂️ TS Đàm Châu Long Sơn, ♂️ TS Phù Bôi, ♂️ TS Hồng Châu Thủy Lão, ♂️ TS Bổn Khê, ♂️ TS Phước Khê, ♂️ TS Kinh Triệu Hưng Bình, ♂️ TS Lạc Kinh Hắc Giản, ♂️ TS Mông Khê, ♂️ TS Dương Kỳ Chân Thúc, ♂️ 0-TS Ngọc Đài Duy Nhiên, ♂️ TS Đinh Châu Thủy Đường, ♂️ TS Ngũ Duệ Linh Mặc, ♂️ 0-TS Tân Tự Bảo Tích, ♂️ TS Phù Dung Thái Dục, ♂️ TS Phục Ngưu Tự Tại, ♂️ TS Lặc Đàm Thường Hưng, ♂️ TS Đàm Châu Tổng Ấn, ♂️ TS Bách Trượng Duy Chính, ♂️ 0-TS Khai Nguyên Tự Huyền Hư, ♂️ 0-TS Hải Lăng Khánh Vân, ♂️ 0-TS Tử Âm Duy Kiến, ♂️ 0-TS Nghĩa Hưng Thắng Biện, ♂️ 0-TS Lộ Phủ Pháp Nhu, ♂️ 0-TS Đại Hội Đạo Ngộ, ♂️ 0-TS Cam Tuyền Chí Hiền, ♂️ 0-TS Hà Trung Bảo Khánh, ♂️ 0-TS Thanh Liên Nguyên Lễ, ♂️ 0-TS Tượng Nguyên Hoài Thản, ♂️ 0-TS Ngạc Châu Hồng Đàm, ♂️ 0-TS Thường Châu Minh Cán, ♂️ 0-TS Hà Trung Phủ Hoài Tắc, ♂️ 0-TS Xử Châu Pháp Tạng, ♂️ 0-TS Kinh Triệu Hồi Thao, ♂️ 0-TS Thê Linh Tự Trí Thông, ♂️ 0-TS Vân Tú Thần Giám, ♂️ TS Ngạc Châu Vô Đẳng, ♂️ 0-TS Tùng Tư Tháp Trí Thông, ♂️ TS Bách Nham Minh Triết, ♂️ TS Tiêu Dao, ♂️ 0-TS Sùng Thái, ♂️ TS Trung Ấp Hồng Ân, ♂️ TS Ly Thôn Tự Mãn, ♂️ TS Nam Nguyên Đạo Minh, ♂️ TS Như Mãn Phật Quang, ♂️ TS Bắc Giang Tây Lan Nhượng, ♂️ TS Minh Khê Đạo Hạnh, ♂️ TS Lặc Đàm Duy Kiến, ♂️ TS Thái Sơn Trí Kiên, ♂️ 0-TS Vương Mỗ Tiêu Nhiên, ♂️ 0-TS Hàm Thông Giác Bình, ♂️ 0-TS Hoa Châu Phục Thê Sách, ♂️ 0-TS Cảo Anh, ♂️ TS Huyền Sách, ♂️ TS Thiên Vương Đạo Ngộ, ♂️ TS Thạch Cữu, ♂️ Hồng Châu Tây Sơn Lượng, ♂️ TS Linh Kiệu, ♂️ TS Vân Cư Năng, ♂️ TS Quy Tông Trí Thường, ♂️ TS Hồ Nam Đông Tự Như Hội, ♂️ TS Ma Cốc Bảo Triệt, ♂️ TS Ô Cựu, ♂️ TS Diêm Quan Tề An, ♂️ TS Nga Hồ Đại Nghĩa, ♂️ TS Đại Mai Pháp Thường, ♂️ TS Lỗ Tổ Bảo Vân, ♂️ TS Tử Ngọc Đạo Thông, ♂️ TS Lặc Đàm Pháp Hội, ♂️ TS Tây Đường Trí Tạng, ♂️ TS Ngũ Đài Ẩn Phong, ♂️ TS Thạch Củng Huệ Tạng, ♂️ TS Chương Kính Hoài Uẩn, ♂️ TS Đại Châu Huệ Hải, ♂️ TS Nam Tuyền Phổ Nguyện, ♂️ TS Phần Châu Vô Nghiệp, ♂️ Tổ Thứ 36 - TS Bách Trượng Hoài Hải, ♂️ TS Bàn Sơn Bảo Tích
Phối Ngẫu#1Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Kinh Triệu Nghĩa Tông, ♂️ 0-TS Kinh Triệu Nguyên Tịnh, ♂️ 0-TS Kinh Triệu Tuệ Kiến, ♂️ 0-TS Kinh Triệu Vô Biểu, ♂️ 0-TS Kinh Triệu Pháp Trí
#2Danh TánhChưa Rõ
Pháp Tử ♂️ 0-TS Kinh Triệu Nghĩa Tông
Tịch#1Viên Tịch817

Hành Trạng

Thiền Sư Duy Khoan
Pháp tự đời thứ hai của Nam Nhạc Hoài Nhượng
Pháp tự của Mã Tổ Đạo Nhất
惟 寬 (755-817). Thiền sư Duy Khoan đời Đường, ở chùa Hưng Thiện Kinh Triệu, họ Chúc, là người Tín An, Cù Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Năm 13 tuổi, thấy sát sanh là không nỡ ăn thịt, bèn cầu xuất gia. Ban đầu sư tập Tỳ-ni (luật, oai nghi), tu chỉ quán, sau đó tham yết Đại Tịch được tâm yếu. Năm thứ sáu đời Đường Trinh Nguyên (790) mới hành hóa ở miền Ngô Việt. Tám năm sau, đến vùng hồ Bà Dương, sơn thần cầu truyền thụ bát giới. Mười ba năm, dừng chân chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn.
Tăng hỏi:
- Thế nào là đạo ?
Sư nói:
- Núi đẹp quá.
Tăng nói:
- Kẻ học này hỏi đạo, sao sư lại nói núi đẹp ?
Sư nói:
- Ông chỉ biết núi đẹp thôi chứ có từng đạt đạo bao giờ1(tức đến đường cái).

*

Tăng hỏi:
- Con chó có Phật tánh không ?
Sư đáp:
- Có đấy.
Tăng hỏi:
- Còn Hòa thượng có không ?
Sư đáp:
- Ta thì không.
Tăng nói:
- Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, sao riêng Hòa thượng lại không ?
Sư đáp:
- Ta không phải là tất cả chúng sanh.
Tăng hỏi:
- Nếu đã không phải chúng sanh thì là Phật chăng ?
Sư đáp:
- Không phải Phật.
Tăng hỏi:
- Vậy rốt lại là vật gì ?
Sư nói:
- Lại cũng không phải là vật.
Tăng hỏi:
- Có thể thấy, có thể nghĩ suy không ?
Sư đáp:
- Suy nghĩ không tới, bàn luận không được, cho nên mới nói không thể nghĩ bàn.

*

Năm Nguyên Hòa thứ tư (809), vua Hiển Tông xuống chiếu, triệu vào triều đình. Bạch Cư Dị từng đến gặp sư hỏi:
- Đã gọi là Thiền sư thì lấy gì thuyết pháp ?
Sư nói:
- Vô thượng Bồ-đề bị thân mà thành Luật. Nói nơi miệng là Pháp, hành ở tâm là Thiền, ứng dụng có ba mà nhất trí chỉ một, ví như sông hồ, sông Hoài, sông Hán, tại chỗ mà lập danh. Danh tuy không một nhưng tánh nước chẳng hai. Luật tức là pháp, pháp không rời Thiền, tại sao trong đó khởi vọng mà phân biệt.
Bạch lại hỏi:
- Nếu đã không phân biệt thì làm thế nào tu tâm ?
Sư đáp:
- Tâm vốn chẳng tổn thương thì tại sao lại cần phải tu sửa ?. Bất kể dơ hay sạch, nhất thiết không khởi niệm vậy.
Bạch lại hỏi:
- Dơ thì không nên nghĩ tới, sạch không nghĩ tới nên chăng ?
Sư nói:
- Như trong con ngươi của mắt, một vật cũng không thể trụ được. Mạt vàng tuy quí, nhưng lọt vô mắt là bệnh.
Bạch lại hỏi:
- Nếu chẳng tu, chẳng niệm thì có khác gì phàm phu đâu ?
Sư nói:
- Phàm phu vô minh, chấp trước nhị thừa. Rời hai bệnh ấy, gọi là chân tu. Chân tu chẳng cần mẫn mà cũng chẳng quên lười, cần mẫn thì gần chấp trước, còn quên lười thì rơi vào vô minh. Đó là tâm yếu vậy.

*

Có tăng hỏi:
- Đạo ở tại đâu ?
Sư đáp:
- Chỉ có tại trước mắt.
Hỏi:
- Sao con không thấy ?
Sư đáp:
- Nhân vì ông có cái “Ngã”, cho nên không thấy.
Hỏi:
- Con vì có cái “Ngã” mà không thấy, còn Hòa thượng thì thấy không ?
Sư đáp:
- Có người, có ta, xoay chuyển không thấy.
Hỏi:
- Không ta, không người có thấy không ?
Sư đáp:
- Đã không ta, không người thì ai còn cần thấy làm chi ?
Ngày cuối tháng 2 năm Nguyên Hòa thứ mười hai (817), sư thăng đường thuyết pháp xong là tịch luôn, thọ 63 tuổi, thọ lạp 39, đem về táng ở Bá Lăng Tây Nguyên, sắc thụy Đại Triệt Thiền Sư, tháp hiệu Nguyên Hòa Chánh Chân.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.